Quyển 11

25/01/201509:02(Xem: 5474)
Quyển 11

ĐẠI VIỆT SỬ THI

(30 quyển)

Chủ đề:  Việt Nam Lịch sử Diễn ca

Tác giả: BS. Hồ Đắc Duy

 

QUYỂN 11
 
Năm Giáp Ngọ đặt nguời cai trị (1414)
Một vùng đất Giao Chỉ bấy giờ
Ngọc ngà vơ vét đầy kho
Bắt dân xuống biển để mò ngọc trai
 
Giặc Minh lại ra tay tàn ác
Chiếm lấy ngay mỏ bạc mỏ vàng(1415)
Dân ta cơ cực cùng đường
Lâm vào thảm cảnh tang thương não nề

(Tiếp theo) QUYỂN 11
 
LÊ THÁI TỔ HOÀNG ĐẾ (1428- 1433)
 
Năm Mậu Tuất truyền đi các lộ(1418)
Rằng Lam Sơn Lê Lợi dấy binh
Muôn người nhất loạt tôn vinh
Đưa làm chủ tướng "Diệt Minh" báo thù
Ơ dưới cờ, anh hùng hào kiệt  
 
Cùng một lòng thề quyết đánh tan
Lũ quân xâm lược hung tàn
Giành nền độc lập giang sơn của mình
Kể từ đó dồn binh tích thảo
 
Gởi truền dơn bá cáo khắp nơi
Anh hùng hội tại Lũng Nhai (1419)
Chung lòng giết lũ giặc trời cứu dân
Trận đầu tiên dàn quân Lạc Thủy
 
Đánh Mã Kỳ như thể chẻ tre
Quân lương khí giới thu về
Ba ngàn xác giặc đầu lìa khỏi thân
Tên Lý Bân đem quân lùng sục(1418)
 
Bị Vương cho mai phục dọc đường
Bắn tên, giặc chết, vô vàn
Hoảng hồn vội rút binh lương chạy về
Giặc kiệt quệ khó bề chống đỡ
 
Dân thừa cơ từ đó nổi lên
Cùng nhau tiến đánh ngày đêm
Thượng thư Hoàng Phúc phải xin hồi triều(1420)
Giặc đóng đâu, dân theo ở đấy
 
Như tàng hình, lúc thấy lúc không
Hở ra, giặc bị tấn công
Tham mưu Trần Trí buộc lòng rút lui(1421)
Người Ai Lao, quân vài ba vạn(1421)
 
Cùng trăm voi giả dạng theo ta
Vào trong doanh trại chung nhà
Nửa đêm bất ý nổ ra phá thành
Vua đích thân chỉ huy cự chiến
 
Giữa trận tiền vung kiếm dẹp tan
Ai Lao sợ quá chạy luôn
Quân ta đuổi đến Lưu Sơn mới về
Năm Nhâm Dần(1422) nhằm khi tháng Chạp
 
Người Ai Lao hẹn gặp quân Minh
Hợp tung làm thế liên minh
Đông Tây giáp lại quyết tình diệt ta
Vua xuống lệnh xông ra đánh mạnh
 
Cho tiến quân một cánh mở đường
Hậu quân rút khỏi chiến trường
Rồi quay bọc hậu tìm phương đánh vào
Quân Ai Lao không ngờ phản kích
 
Viện binh giặc nằm tít ngoài xa
Mã Kỳ, Trần Trí xin ta
Tạm thời đình chiến vờ qua lúc này
Núi Chí Linh đồn xây lán dựng
 
Hai tháng trời gần cạn quân lương  
Giết voi và ngựa đỡ lòng(1422)
Mà quân kháng chiến vẫn không nản lòng
Rồi dùng voi tấn công đột ngột  
 
Đánh Đa Căng, Nhữ Hốt thoát thân(1424)
Nhà Minh sai trả Lê Trăn
Xin ta ngừng chiến rút quân , trá hàng
Tướng Lam Sơn : Lê Hào , Lê Lĩnh  
 
Với đội hình quân lính ngàn tên
Nhằm khi Lê Thạch xông lên
Chẳng may lọt hố chông ghim vào người  
Bảo Lê Ngân, vua sai Lê Liệt
 
Đường tắt đi vây xiết Đỗ Gia
Phục binh Bồ Ải quân ta(1424)
Dưới quyền Lê Sát đánh ba hôm liền
Lấy thêm quân vua truyền vây hãm(1425)
 
Thành Nghệ An cùng quẫn lâu nay
Tướng giặc Trần Trí khoanh tay
Bèn cho đóng kín đợi ngày viện binh
Vây Tân Bình giao cho Lê Nỗ(1425)
 
Cùng Trần Nảo đánh tới Hóa Châu
Vùng đất Thuận Hóa đã lâu
Dưới ách thống trị , nay vào tay ta
Cho chia quân làm ba mũi nhọn(1426)
 
Hai đạo dùng giữ chốn biên cương
Chặn binh Lưỡng Quãng tiến sang
Khởi đầu bắc tiến quyết dành lại dân
Giặc ở thành Đông Quan nao núng
 
Tướng Lý An, Phương Chính chạy về  
Bàn cùng Trần Trí rút đi
Tây Đô khốn đốn coi bề nguy nan
Để giải vây mấy làng phụ cận
 
Quanh Đông Quan giặc vẫn cầm chân
Nghĩa quân vây xiết lại dần
Giết Sâm và Đại ở gần cầu Nhân
Quân viện binh của Vương An Lão
 
Bị Lê Khả áp đảo tơi bời
Giết đi hơn một nghìn người
Tàn quân còn lại chạy dài qua sông
Vào mùa đông trong năm Bính Ngọ(1426)
 
Vua nhà Minh cho cử Vương Thông  
Ngã Vân Nam , thẳng đến sông
Thêm quân ba vạn đi cùng Mã Anh
Sông Yên Nguyệt vây quanh quân giặc  
 
Giết Trần Hiệp đón bắt Vương Thông
Giặc Minh chết đuối đầy giòng
Chém tên Lý Lượng bắt chừng vạn tên
Cho tiến lên đuổi theo Phương Chính
 
Bọn Mã Kỳ cố tránh thoát đi
Ta thu quân khí bộn bề
Vương Thông thoát dược chạy về Đông Quan
Bình Dịnh Vương chọn nơi Phù Liệt  
 
Đặt bản doanh trực tiếp chỉ huy
Đông Đô bốn đạo phân đi
Đặt quan văn võ dễ bề điều quân
Vương tìm được họ Trần tên Cảo
 
Lập làm vua bố cáo trong dân
Triện ghi danh tính rõ ràng
Hiệu là Thiên Khánh ngang hàng đế vương
Giặc bị vây lâm đường khốn quẩn
 
Ơ nhiều nơi chúng dẫn ra hàng
Vương Thông mong được bảo toàn
Sai đưa thư đến tính toan nghị hòa
Vua bằng lòng ban ra quân lệnh  
 
Cho từng đoàn binh lính người Minh
Mau mau tập hợp về dinh
Giải trừ vũ khí Yên Kinh cho về
Vương Thông nghe lời tên phản quốc(1426)
 
Nên đem lòng ngờ vực quân ta
Đắp thêm thành lũy để mà  
Đợi binh tiếp viện sẽ qua cứu mình
Giận giặc Minh đã không thành thật
 
Lại sai người bí mật mang thư
Xin binh cứu viện bây giờ
Nên vua quyết định đánh cho tan hàng
Bản doanh nơi Đông Quan đối mặt  
 
Địch và ta chỉ cách sông Lô
Truyền cho Nguyễn Trãi đại phu
Dự bàn việc thảo một tờ chiêu an
Giặc nhiều nơi ra hàng đồng loạt  
 
Tướng nhà Minh hoảng hốt vô cùng
Lấy Thị Cầu chiếm Tam Giang
Diễn Châu cùng với Nghệ An quy hàng
An viễn hầu Liễu Thăng xuất trận(1427)
 
Đem theo cùng mười vạn quân binh
Tham tướng Bảo Định, Lương Minh
Đô đốc Thôi Tụ cùng mình kéo sang
Tướng Chinh Nam quốc công Mộc Thạnh
 
Năm vạn quân một cánh tiến qua
Đánh vào cửa ải Lê Hoa
Dừng chân nghe ngóng lấy đà tấn công
Còn Liễu Thăng vượt vòng Pha Lũy
 
Quân Lê Lựu lùi giữ Ải Lưu
Kế sách ta đã lập mưu
Chỉ vài ba trận giả đò thua to
Liễu Thăng cho đại quân đánh thốc
 
Lọt vào vòng mai phục của ta
Bốn bên pháo lệnh nổ ra
Quân Minh tháo chạy kêu la rần trời
Chém Liễu Thăng ở đồi Yên Ngựa(1427)
 
Đem bêu đầu trước giữa ba quân
Lương Minh, Lý Khánh lùi dần
Cuối cùng tử trận ở gần Chí Linh
Ngày mười lăm, quân Minh đại bại(1427)
 
Trói Hoàng Phúc, Thôi Tụ dẫn đi
Ta thu ấn bạc, châu phê
Hổ phù chiến khí đem về Đông Quan
Ở Vân Nam , tướng già Mộc Thạnh
 
Thấy rùng mình trước cảnh Liễu Thăng
Vội vàng bỏ cả ba quân
Một mình một ngựa chạy băng trốn về
Ở Đông Quan giặc nghe đại bại
 
Vội vàng đem dâng sớ xin hòa
Tức tốc sai sứ mang qua
Xin vua mở lượng hải hà tha cho
Vua xuống lệnh trả tù về trước
 
Cấp bạc tiền, gạo nước, quân lương
Cho thuyền, cấp ngựa sẵn sàng
Lấy điều nhân nghĩa dạy quân giặc tàu
Cho Phương Chính bắt đầu về trước(1427)
 
Còn Mã Kỳ thì được theo sau
Hoàng Phúc, Sơn Thọ lao xao
Xốc xếch quần áo dắt nhau trở về
Trước khi đi, đến nơi lạy tạ
 
Bình Định Vương trước cửa hành dinh
Vua ta khuyên nhủ giặc Minh
Từ đây, đừng dại chiến tranh với nguời
Bậc quân tử ở đời hiếm có
 
Vua và Thông luận cổ suy kim
Trước thù, nay lại hàn huyên
Cùng nhau giải mối thù hiềm từ lâu
Uống cạn bầu, chuyện trò tới sáng
 
Nghĩa hiếu hòa chuyện vãn với nhau
Vua sai đem rượu, đưa trâu
Khôn ngoan đáng bậc ngoại giao tuyệt vời

(Tiếp theo) QUYỂN 11
 
(Tiếp theo) LÊ THÁI TỔ HOÀNG ĐẾ (1428- 1433)

Năm Mậu Thân, lên ngôi hoàng đế(1428)
Dời đô về ở phía Đông Kinh
Thuận Thiên niên hiệu chính danh
Đặc tên : Đại Việt , sử xanh muôn đời
Vua cùng người nghị bàn việc nước
Luận tội công cho được phân minh(1429)
Lại sai Nguyễn Trãi dâng lên
Bình Ngô đại cáo để truyền trong dân(1428)

Bản tuyên ngôn được rao khắp nước
Cho thần dân biết được ý vua
Nước nhà độc lập bấy giờ
Thái bình thịnh trị cơ đồ phục hưng
Trong tận cùng trái tim vua nói :
         
“1. Từng nghe :
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lê Lý, Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có.
 
Vì vậy :
Lưu Cung tham công nên thất bại,
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét
Chứng cớ còn ghi
 
2. Vừa rồi :
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước lòng dân oán hận
Quân cuồng Minh đã thừa cơ gây họa
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời, lừa dân, đủ muôn nghìn kế
Gây binh, kết oán, trải hai mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi
Người bị ép xuống biển, dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng
Kẻ bị đem vào núi, đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc
Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng
Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ
Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng
Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán.
Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa ?
Nặng nề những nỗi phu phen
Tan tác cả nghề canh cửi
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội
Dơ bẩn thay, nước Nam Hải không rửa sạch mùi !
Lẽ nào trời đất dung tha
Ai bảo thần dân chịu được  

3. Ta đây :
Núi Lam Sơn dấy nghĩa
Chốn hoang dã nương mình
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống  
Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,
Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ
Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi,
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên
Chính lúc quân thù đang mạnh.
Lại ngặt vì :
Tuấn kiệt như sao buổi sớm
Nhân tài như lá mùa thu
Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần
Nơi duy ác hiếm người bàn bạc
Tấm lòng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về đông
Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chắm còn dành phía tả.
 
Thế mà :
Trông người, người càng vắng bóng, mịt mù như nghìn chốn bể khơi
Tự ta, ta phải dốc lòng vội vã hơn cứu người chết đuối.
Phần vì giận quân thù ngang dọc
Phần vì lo vận nước khó khăn,
Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
Khi Khôi Huyện, quân không một đội
Trời thử lòng trao cho mệnh lớn
Ta gắng chí khắc phục gian nan
Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào
Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.
 
Trọn hay :
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo
Trận Bồ Đằng, sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân, trúc chẻ tro bay
Sĩ khí đã hăng
Quân ta càng mạnh
Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,
Lý An, Phương Chính nín thở cầu thoát thân
Thừa thắng ruỗi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại
Tuyển binh, tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về,
Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm
Tốt Động, thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.
Phúc tâm 1uân giặc : Trần Hiệp đã phải bêu đầu.
Mọt gian kẻ thù : Lý Lượng cũng đành bỏ mạng
Vương Thông gỡ thế nguy, mà đám lửa cháy lại càng cháy
Mã Anh cứu trận đánh, mà quân ta hăng lại càng hăng.
Bó tay để đợi bại vong, giặc đã trí cùng lực kiệt
Chẳng đánh mà người chịu khuất, ta đây mưu phạt tâm công
Tưởng chúng biết lẽ ăn năn, nên đã thay lòng đổi dạ.
Ngờ đâu vẫn đương mưu tính, lại còn chuốc tội gây oan,
Giữ ý kiến một người, gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác,
Tham công danh một lúc, để cười cho tất cả thế gian.
 
Bởi thế :
Thằng nhãi con Tuyên Đức, động binh không ngừng
Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy,
Đinh Mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại.
Năm ấy tháng mười, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.
Ta trước đã điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong,  
Ta sau lại sai tướng chẹn đường, tuyệt nguồn lương thực.
Ngày mười tám, trận Chi Lăng Liễu Thăng thất thế,
Ngày hai mươi, trận Mã Yên Liễu Thăng cụt đầu.
Ngày hăm nhăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong
Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn
Thuận đà ta đưa mũi dao tung phá
Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau
Lại thên quân bốn mặt vây thành
Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc,
Sĩ tốt kén người hùng hổ,
Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh,
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn,
Voi uống nước, nước sông phải cạn,
Đánh một trận, sạch không kình ngạc
Đánh hai trận, tan tác chiêm muông.
Cơn gió to trút sạch lá khô,
Tổ kiến hổng, sụt toang đê vỡ.
Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội.
Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.
Lạng Giang, Lạng Sơn thây chất đầy đường,
Xương Giang, Bình Than máu trôi đỏ nước.
Ghê gớm thay ! Sắc phong vân phải đổi,
Ảm đạm thay ! Ánh nhật nguyệt phải mờ.
Bị ta chặn ở Lê Hoa, quân Vân Nam nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật !
Nghe Thăng thua ở Cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân,
Suối Lãnh Câu, máu đào trôi chảy, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc.
Thành Đan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đầm đìa máu đen.
Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp
Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng,
Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng.
Thần vũ chẳng giết hại, thề lòng trời, ta mở đường hiếu sinh
Mã Kỳ, Phương Chính cấp cho năm trăm chiến thuyền
ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc.
Vương Thông, Mã Anh phát cho vài nghìn cổ ngựa,  
về đến nước mà vẫn tim đập chân run !
Họ đã tham sống sợ chết mà hòa hiếu thực lòng.
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức,
Chẳng những mưu kế kỳ diệu
Cũng là chưa thấy xưa nay .
 
4. Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Kiền khôn bĩ mà lại thái
Nhật nguyệt hối mà lại minh
Ngàn thu vết nhục nhã sạch làu
Muôn thuở nền thái bình vững chắc.
Âu cũng nhờ trời đất tổ tông khôn thiêng, ngầm giúp đỡ mới được như vậy.
Than ôi !
Một cổ nhung chiến thắng, nên công oanh liệt ngàn năm,
Bốn phương biển cả thanh bình, ban chiếu duy tân khắp chốn.
Xa gần bá cáo
Ai nấy đều hay."

(Tiếp theo) QUYỂN 11
 
(Tiếp theo) LÊ THÁI TỔ HOÀNG ĐẾ (1428- 1433)

Xuống chiếu sai biểu dương sĩ tử
Khuyến khích dân tiến cử nhân tài(1429)
Lắng nghe can gián của người
Lúc bàn việc nước dẫn lời thánh nhân
 
Với thuộc cấp định công phong tước
Chia ba bậc, phẩm trật rõ ràng
Kê khai tài sản cá nhân
Sổ điền, sổ bộ, chia ban mà làm(1430)
 
Vua xuống chiếu truyền quan văn võ
Họp bàn về quy cũ bạc tiền(1431)
Không vì ưa thích ý riêng
Mà đem áp đặt lấy quyền bắt dân
 
Sai giết hết những quân phản nghịch
Giúp giặc làm những việc ác ôn
Đã không sửa lại lỗi lầm
Tụ bè kết đảng ngấm ngầm âm mưu
 
Sai tịch thu gia tư những kẻ
Làm lắm điều quốc tệ gia vong
Như là Nhữ Hốt, Văn Phong
Như tên Sùng, Lễ, tên Trung, tên Tồn
 
Vua giết oan quan Phạm Văn Xảo (1430)
Cũng như là Trần Cảo trước đây (1428)
Cũng như Nguyên Hãn sau này
Vì nghi bội phản giết ngay mấy người
 
Giết Tư Mã Lê Lai vì cậy (1427)
Có chiến công nói bậy khinh nhờn
Tịch thu tiền của gia trang
Chém ngay những kẻ bán buôn trữ hàng
 
Vua làm sách Lam Sơn thực lục
Chép lịch triều từ lúc khởi binh
Viết lên sự nghiệp kháng Minh
Ghi công chiến sĩ vô danh muôn đời
 
Vua lại sai xây cung Vạn Thọ (1428)
Chế tạo thêm chiến cụ, thuyền bè
Đúc tiền, biểu chế phục nghi
Định ra ấn tín, quốc huy rõ ràng
 
Năm Quý Sửu thượng tuần tháng tám (1433)
Vua băng hà chính tẩm Đông Kinh
Là người áo vải xuất chinh
Mười năm ròng rã kháng Minh phục thù
 
Khi cõi bờ không còn bóng giặc
Ngài chăm lo việc nước việc dân
Chỉnh tu luật pháp dần dần
Mở mang trường học gương chân thánh hiền (1428)
 
Ngoài chống giặc, trong yên vận nước
Chuyện áo cơm lo trước cho dân
Lam Sơn thực lục tự thân
Viết lên quan điểm trị dân rõ ràng

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
21/03/2018(Xem: 21848)
Chúng ta đang ở vào năm thứ 18 của Thế Kỷ 21 và chỉ còn 82 năm nữa nhân loại sẽ bước vào Thế Kỷ 22. Có rất nhiều biến động của thế kỷ trước mà chúng ta đã quên mất rồi. Nhân dịp về hưu rảnh rỗi tôi lục lại cuốn Biên Niên Sử Thế Kỷ 20 (Chronicle of the 20th Century) để xem nhân loại phát minh ra những gì, chịu những thống khổ, những vui buồn như thế nào và có bao nhiêu cuộc chiến tranh giữa các đế quốc. Sự thực phũ phàng của 118 năm qua là, một quốc gia tuy nhỏ bé nhưng có vũ khí tối tân và bộ máy quân sự khổng lồ vẫn có thể bá chủ thế giới và biến các quốc gia to rộng gấp mười lần mình thành nô lệ. Do đó muốn tồn tại trong độc lập, ngoài phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học, lúc nào cũng phải tăng cường binh bị, vũ khí cho kịp đà tiến triển của nhân loại. Sách lược ngoại giao cũng là một vũ khí nhưng sức mạnh quân sự của một quốc gia là loại vũ khí vững chắc nhất.
07/03/2018(Xem: 8489)
Ý đồ của Hốt-tất-liệt, dựa trên Phật giáo Tây Tạng để thống trị Trung Quốc không chỉ bằng vũ lực mà còn cả về tư tưởng, tôn giáo, chính trị xã hội; nếu suy luận này của chúng ta không lạc hướng, thế thì lịch sử chứng tỏ ý đồ này đã thất bại. Ý nghĩa của sự thất bại này thuộc phạm vi nghiên cứu của các nhà văn hóa và sử học.
07/03/2018(Xem: 7688)
Quân nhân Mỹ gốc Việt Hiền Trịnh trên tàu sân bay USS Carl Vinson.
01/01/2018(Xem: 49843)
Đại Bảo tháp Phật giáo cổ xưa Nelakondapalli ở huyện Khammam đang ở giai đoạn cuối của việc tu sửa. Với kinh phí khoảng 6 triệu Rupee, Cục Khảo cổ học và Bảo tàng đã thực hiện công việc để Đại Bảo tháp khôi phục lại vinh quang ban đầu và để bảo tồn kiến trúc cổ xưa này cho hậu thế. Di tích Phật giáo này, tọa lạc cách thị trấn Khammam khoảng 22 km, là một trong những điểm đến du lịch nổi tiếng nhất của bang Andhra Pradesh. Đại Bảo tháp đồ sộ, vốn đã tồn tại qua nhiều thế kỷ của sự hao mòn, đang được tu sửa sau khi cư dân và các sử gia địa phương nhiều lần cầu xin để bảo tồn di tích lịch sử có tầm quan trọng lớn lao về khảo cổ học này. Cục khảo cổ học cho biết loại gạch đặc biệt được đặt làm cũng như các vật chất kết nối tự nhiên đã được sử dụng để tăng cường cho cấu trúc của Đại Bảo tháp. (bignewsnetwork – April 18, 2015)
15/11/2017(Xem: 12992)
Phật Giáo Hoa Tông theo dòng lịch sử - HT Thích Thiện Nhơn
03/11/2017(Xem: 10809)
Thoại Ngọc Hầu, một công thần suốt đời tận tuỵ hy sinh vì cơ đồ của nhà Nguyễn. Sinh thời ông rất được các vua Gia Long, Minh Mệnh trọng dụng nhưng khi mất đi chưa được bao lâu thì cũng chính Minh mệnh đã hài tội ông, còn các sử quan nhà Nguyễn thì trong Đại Nam Chính Biên liệt truyện, theo lối viết Xuân Thu đã xếp ông vào nhóm công thần trọng tội: Lê văn Quân, Nguyễn văn Thoại, Lưu Phước Tường, Đặng Trần Thường, Đỗ Thanh Nhân.( ĐNLT, T2, tr 511, nxb Thuận Hoá 2006)
03/11/2017(Xem: 5639)
Huỳnh thị Bảo Hòa là một trong những người phụ nữ đầu tiên in tiểu thuyết bằng chữ quốc ngữ. Bà tên thật là Huỳnh thị Thái, sinh năm 1896, quê xã Hòa Minh huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam ( Nay thuộc thành phố Đà Nẵng). Thân phụ của bà là ông Huỳnh Phúc Lợi, giữ một chức quan võ nhỏ dưới triều Nguyễn. Thân mẫu là bà Bùi thị Trang. Bà Huỳnh thị Bảo Hòa là một phụ nữ tiến bộ thời bấy giờ. Bà thông thạo cả chữ Hán, chữ Quốc ngữ và chữ Pháp, hưởng ứng phong trào cắt tóc ngắn, đi xe đạp, tham dự đám tang cụ Phan Châu Trinh, tích cực hoạt động xã hội, diễn thuyết để cổ xúy cho việc thăng tiến phụ nữ, viết báo, viết tiểu thuyết, kịch bản tuồng hát bội, khảo luận. Vào giữa tháng 6 năm 1931, nhân chuyến đi nghỉ mát ở Bà Nà, bà đã viết Bà Nà du ký đăng trên tạp chí Nam Phong số 163, tháng 6 năm 1931 để giới thiệu với độc giả một thắng cảnh thiên nhiên mà theo bà đó là một cảnh Bồng lai ở dưới trần thế.
23/09/2017(Xem: 35793)
The Vietnam War - Chiến Tranh Việt Nam (Trọn bộ 10 tập), đạo diễn: Ken Burns và Lynn Novick - Buổi ra mắt và thảo luận về phim “The Vietnam War” đêm thứ Ba 12/9 của hai đạo diễn Mỹ nổi tiếng về các phim tài liệu có giá trị lịch sử: Ken Burns và Lynn Novick diễn ra tại Trung tâm Biểu diễn Nghệ thuật Kennedy ở thủ đô Washington. Dẫn đầu cuộc thảo luận, ngoài hai nhà đạo diễn và MC là ký giả Martha Raddatz của chương trình tin tức đài ABC, còn có 3 khách mời đặc biệt, Thượng nghị sĩ John McCain, cựu Bộ trưởng Ngoại giao John Kerry và cựu Bộ trưởng Quốc phòng Chuck Hagel, cả 3 đều là cựu chiến binh từng tham chiến tại Việt Nam.
18/08/2017(Xem: 7137)
Ba năm, sau khi Pháp lập Đồng Khánh lên ngôi, thực hiện ý định giành dân, lấn đất của nhà cầm quyền thuộc địa, ngày 19-7-1888, tại Paris, Tổng thống Pháp đã ký một sắc lệnh thiết lập ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng. Dưới sức ép của Pháp, ngày 27 tháng 8 năm Mậu Tý (3-10-1888) vua Đồng Khánh buộc phải ký một đạo dụ gồm 3 khoản, nhượng chủ quyền ba thành phố ấy cho Pháp. Thành phố Đà Nẵng được ra đời, mang tên chính thức là Tourane suốt 62 năm Pháp thuộc từ năm 1888 đến năm 1950 là năm Pháp trao trả Đà Nẵng cho chính quyền Bảo Đại. Sách Đại Nam thực lục ghi : “Mậu Tý , Đồng Khánh năm thứ 3 (1888), mùa thu tháng 8 Lấy đất thuộc Đà Nẵng (bờ biển ở Quảng Nam) làm nhượng địa của người Pháp”. ((ĐNTL, T9, tr 429). Người đại diện Nam triều ký vào bản đồ vẽ phần đất của Đà Nẵng được trích ra làm nhượng địa của Pháp là Chánh sứ Nha Hải phòng Quảng Nam Thái Văn Trung.
22/06/2017(Xem: 6853)
Trường Tỉnh Quảng Nam được thành lập năm 1802, dưới triều Gia Long, tại xã Câu Nhí, huyện Diên Phước, đến năm 1835 triều Minh Mạng được dời về Thanh Chiêm. Tuy ra đời muộn màn nhưng nhờ có sự tận tâm dạy dỗ của các vị Đốc học tài giỏi và truyền thống hiếu học, cần cù chăm chỉ của các Nho sinh nên trường Đốc Thanh Chiêm là lò luyện nhân tài cho đất nước