Tiết 1: Phân hệ và phân phái

05/01/201202:25(Xem: 7834)
Tiết 1: Phân hệ và phân phái

LỊCH SỬ PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ

Pháp sư Thánh Nghiêm- Thích Tâm Trídịch

---o0o---

CHƯƠNG V
SỰ PHÂN CHIA BỘ PHÁI PHẬT GIÁO

TIẾT I. PHÂN HỆ VÀ PHÂN PHÁI

- Tứ chúng.

Nguyên nhân của việc phân phái được khởi đi từ nhiều hệ tư tưởng không giống nhau. Vấn đề này, chương trước đã có nói đến ít nhiều. Đến thời vua A Dục, việc phân phái là từ “Tứ Chúng” chứ không phải từ hai Bộ.

Luận Dị Bộ Tông Luân và Bộ Chấp Dị Nghị(1) đều nói là do Tăng chúng phân rã mà thành Tứ chúng.

Ngài Liên Hoa Sinh và ngài Điều Phục Thiên v.v... khi truyền Phật giáo vào Tây Tạng cũng nói sau Phật nhập diệt một trăm mười sáu năm, các đệ tử Phật dùng bốn thứ ngôn ngữ để tụng giới. Nhất Thiết Hữu Bộ dùng Nhã ngữ (ngôn ngữ của người Aryan) để tụng giới. Đây là hệ kế thừa học lưu của ngài La Hầu La. Đại Chúng Bộ dùng Tục ngữ để tụng giới. Đây là hệ kế thừa học lưu của ngài Đại Ca Diếp. Chánh Lượng Bộ dùng Tạp ngữ để tụng giới (người làm thịnh hành hệ Độc Tử). Đây là hệ kế thừa học lưu của ngài Ưu Ba Li. Thượng Tọa Bộ dùng (tiếng địa phương vùng trung Ấn Độ) Quỷ ngữ để tụng giới. Đây là hệ kế thừa học lưu của ngài Đại Ca Chiên Diên. Việc tụng giới khác ngôn ngữ của Tứ Chúng cũng được học giả Bố Đốn của Tây Tạng nói đến trong cuốn “Phật Giáo Sử” do ông trước tác (Historyof Buddhism by Buston).

Bộ luận Dị Bộ Tông Luân, được ngài Huyền Trang dịch ra Hán văn(2) cũng nói đến Tứ chúng, đó là:

1. Long tượng chúng, gồm những vị nghiêm trì giới luật, như các học đồ của ngài Ưu Ba Li.

2. Biên Bỉ chúng, gồm những vị phá giới, như “giòng” của Đại Thiên.

3. Đa Văn chúng, gồm những vị Tỳ kheo giữ lời Phật dạy, như các học đồ của ngài A Nan.

4. Đại đức chúng, gồm những vị đại luận sư, họ như học đồ của ngài Phú Lâu Na.

Thuyết nói về sự phân phái vị tất đã chính xác, nhưng ít nhất nó cũng nêu rõ nguyên nhân về ngữ ngôn, về địa vức, và về sự kế thừa học lưu. Bởi tất cả đều liên quan đến sự xuất hiện của các phái.

- Bốn Đại phái và Ba Hệ lớn

Việc thanh lý hệ thống Bộ phái Phật giáo là vấn đề khiến nhiều người phải đau đầu. Nhưng, nhờ ứng dụng phương pháp khoa học để khảo sát, vấn dề ấy mới được điều lý.

Theo nghiên cứu của pháp sư Ấn Thuận - người Tung Quốc. Ông đem Bộ phái Phật giáo chia ra thành bốn phái, ba hệ, hai bộ và một vị(3) theo biểu dưới đây:

lichsuphatgiaoando-05-01

Biểu đồ trên là cơ sở của Bộ phái Phật giáo, dù phân thành Thượng Tọa Bộ và Đại Chúng Bộ, nhưng tất cả hai mặt đều đặt nền tảng căn bản trên giáo lý của đức Phật.

Một chi của Thượng Tọa Bộ thuộc hệ phía đông, lại phân biệt tư tưởng của Thượng Tọa Bộ và của Đại Chúng Bộ, từ đó mà có sự “lấy, bỏ”. Nên có tên là hệ Phân Biệt Thuyết. Hệ này đứng trên lập trường của Thượng Tọa Bộ, nhưng có phần hấp thu tư tưởng tiến bộ của Đại Chúng Bộ. Thượng Tọa Bộ của tây hệ, do sinh hoạt ở vùng tây bắc Ca Thấp Di La có phần nhỏ hẹp, lại không tiếp xúc với phía đông; vì vậy, họ độc lập phát triển, và rồi hình thành nên tư tưởng Hữu Bộ bên trong có sự phân rẽ, và thêm một phân phái nữa. Theo sự truyền thừa của Đại Chúng Bộ, thì sau này Hồng Y (Tích Lan Đồng Diệp) Bộ, Pháp Tạng Bộ, Ẩm Quang Bộ, Hóa Địa Bộ, đều thuộc về hệ Phân Biệt Thuyết. Những Bộ này không phản đối Đại Chúng Bộ một cách cực đoan. Về sau Đại Chúng Bộ chuyển xuất thành Đại Thừa Phật giáo, Thánh điển của Hệ Phân Biệt Thuyết ít nhiều cũng có khuynh hướng Đại thừa. Chẳng hạn như Pháp Tạng Bộ (còn gọi là Đàm Vô Đức Bộ) tuy xuất hiện muộn hơn các Bộ khác, nhưng Bộ này lại thuộc về “Tứ Phần Luật”, vì vậy pháp sư Đạo Tuyên của Tung Quốc cho là Bộ này thông với Đại thừa. Điều đó có nguyên nhân xa hơn.

- Sự phân biệt Chi Mạt.

Sở dĩ gọi là phân biệt (tách ra) chi mạt là vì Đại Chúng Bộ và Thượng Tọa Bộ đã phân chia rồi, nay lại phân chia thêm nữa. Vì vậy, mới có nhị bộ, tam hệ, tứ bộ, thập bát bộ, nhị thập bộ, Nam truyền thì có hai mươi bốn bộ nối tiếp nhau xuất hiện. Trong tư liệu của Bắc truyền, có nói đến việc phân chia bộ phái, đó là: giáo đoàn bạt Bối Lạt (Bhavya) được truyền tại Tây Tạng, “Văn Thứ Lợi Vấn Kinh”, “Xá Lợi Phất Vấn Kinh”, “Thập Bát Bộ Luận”, “Bộ Chấp Dị Luận”, Đại Chúng Bộ thì có “Dị Bộ Tông Tinh Thích” do Thanh Biện tạo, tất cả các kinh, luận vừa dẫn đều có nói đến việc phân chia Bộ phái Phật giáo. Theo học giả Mộc Thôn Thái Hiền - người Nhật Bản, thì việc phân chia Bộ phái có liên quan đến tám truyền thuyết khác nhau.

Trong đó lấy “Đại Sử” của Nam truyền, Hán dịch thì lấy “Thập Bát Bộ Luận”(4) của Hữu Bộ, dịch vào đời nhà Tần, “Bộ Chấp Dị Luận”(5) dịch vào đời nhà Trần(6), “Dị Bộ Tông Luân Luận”(7) được dịch vào đời nhà Đường, và “Dị Bộ Tông Tinh Thích” của Đại Chúng Bộ làm trọng yếu. Ngoài ra cũng có thể tham khảo sự truyền thừa của Chánh Lượng Bộ.

Sách này chỉ nhân vào “Văn Thù Sư Lợi Vấn Kinh” được truyền tại Tây Tạng và “Xá Lợi Phất Vấn Kinh” nói về việc phân phái, cả hai bộ kinh vừa nêu cùng với thuyết của Hữu Bộ giống nhau, do đó cho nên chỉ lướt qua. Trong ba bộ luận của Hữu Bộ, thì lấy “Dị Bộ Tông Luân Luận”(8) làm đại biểu. Nay xin liệt kê thành bốn biểu đồ sau:

1. “Đại Sử” Chương V, được truyền bởi Thượng Tọa Bộ thuộc hệ Phân Biệt Thuyết của Nam truyền.

lichsuphatgiaoando-05-02

lichsuphatgiaoando-05-03

Chú: Các phái của Đại Chúng Bộ và Thượng Tọa Bộ, phải sau Phật diệt độ từ một trăm đến hai trăm năm mới phân chia; Tuyết Sơn Bộ trở lui, thì sau khi còn các phái của Đại Chúng Bộ và Thượng Tọa Bộ đã phân chia mới hình thành.

lichsuphatgiaoando-05-04

Biểu đồ II: “Dị Bộ Tông Luân Luận” được truyền bởi Hữu Bộ thuộc hệ Thượng Tọa Bộ của Bắc truyền.

lichsuphatgiaoando-05-05

lichsuphatgiaoando-05-06

Biểu đồ III, “Dị Bộ Tông Tích Thích” do Thanh Biện tạo, được truyền bởi hệ Đại Chúng Bộ.

lichsuphatgiaoando-05-07

lichsuphatgiaoando-05-08

Biểu đồ IV. Được truyền bởi Chánh Lượng Bộ: Đại Chúng Bộ trước sau sáu bộ, đều được truyền bởi hệ Phân Biệt Thuyết, chỉ có điều là Bộ Kê Dẫn xưng là Ngưu Gia, và Bộ Chế Đa Sơn được xuất từ Bộ Ngưu Gia.

lichsuphatgiaoando-05-09

- Suy định về việc phân Bộ

Theo những biểu đồ trên, có thể nói một cách hiển nhiên; ấy là các thuyết được nói ở phần trước có sự hỗ tương qua lại, để cuối cùng không thể lấy thuyết nào làm chuẩn chung cho tất cả, bởi ý kiến của Luận giả có sự bất nhất. Vì các phái, phái nào cũng lấy lập trường của phái mình làm chính, và đều muốn đề cao sự xuất thân của Bộ phái mình, đồng thời cũng lấy lập trường của phái mình để thuyết minh. Do đó, chúng ta không nên tận tín và sự thuyết mình của một “nhà”, cũng không bỏ bất kỳ sự thuyết minh của một “nhà” nào, mà tập hợp tất cả mọi thuyết minh của các nhà để thẩm tra, suy luận. Có vậy chúng ta mới tiến đến gần diện mạo của lịch sử một cách khả tín. Ngày cả việc thẩm tra, suy luận, chúng ta cũng cần dựa vào trí tuệ của bản thân để đoán định.

Về đại thể mà nói, những tư tưởng được truyền bởi các nhà, đa phần họ đều dùng “Tự tông” làm cơ sở cho Bộ phái mình. Hệ Phân Biệt Thuyết tự lấy Thượng Tọa Bộ làm cơ sở. Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ cũng lấy “Tự tông” làm “Căn bản” cho Bộ mình. Đây là nói về mặt chủ quan. Do đó, đối với việc phân phái theo thứ lớp của Thượng Tọa Bộ, thì nên theo những gì có phần khả tín, và được truyền bởi Đại Chúng Bộ. Vì Đại Chúng Bộ đứng trên quan điểm khách quan, và không mang thành kiến tự tông (lập trường của tông phái).

Nay xin lấy tiết hai và ba của chương sáu trong bộ “Phật Giáo Ấn Độ” của Pháp sư Ấn Thuận và bài Tự luận về “Nghiên cứu luận thư và luận sư của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ làm chủ yếu” cũng của Ấn Thuận để giới thiệu như sau:

lichsuphatgiaoando-05-10

lichsuphatgiaoando-05-11

Về mặt suy định, thì nên nhất trí với những gì được nhiều thuyết đồng quan điểm, lấy đó làm định thuyết, còn như các thuyết lại có sự khác nhau, thì nên đứng trên phương diện khách quan để tham khảo, suy luận, và tìm hiểu tường tận đặc tính của tông thuyết ấy, rồi dùng mối quan hệ hỗ tương trước sau làm chuẩn qui. Có như vậy sự so sánh mới có thể chấp nhận được. Để nắm rõ vấn đề nêu trên, xin đọc nguyên tắc của pháp sư Ấn Thuận, ở đây chỉ giới hạn, nên có tính sơ lược
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/02/2026(Xem: 1386)
Khi nhìn nét mặt ngây thơ hồn nhiên của các em học sinh lớp mẫu giáo trường Linh Sơn College tại Kushinagar, U.P, Ấn Độ do Ni Sư Thích Nữ Trí Thuận sáng lập và hiện tại do hai Thầy giáo Mr. Rajesh Singh (PD Minh Tuyen). Tel.+91 983 955 2681 và Mr. DineshKKumar Verma ( PD. Minh Anh) . Tel. +91 991 873 8764 làm Hiệu Trưởng và Giám Đốc, chúng tôi cảm thấy rất gần gũi vì các em dễ thương vô cùng với sự hồn nhiên. Khi các em làm những bài toán cộng, trừ, nhân đơn giản đúng đáp số thì được Thầy Hạnh Bổn phát cho mỗi em 20 Rubies. Số tiền không lớn, nhưng là thành quả học tập của các em và sự dạy dỗ của các Thầy Cô giáo trường làng. Ở đây phải nói là Thầy, Cô đã hy sinh lớn lao về thời gian và sự tận tuỵ mới có được những lớp học từ mẫu giáo cho đến lớp 12 như thế. Nhiều em đã được học miễn phí và sau khi học xong trung học ở đây, quay trở lại trường dạy lại các em khác. Đúng là: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”; “uống nước nhớ người đào giếng” là vậy. Sinh hoạt ở Ấn Độ tuy rẻ hơn các nơi khác trê
30/01/2026(Xem: 1043)
Thiền sư Toàn Nhật, theo giáo sư Lê Mạnh Thát “là một nhà văn, nhà thơ lớn của lịch sử văn học dân tộc ta, là một nhà tư tưởng lớn, có những quan điểm độc đáo đầy sáng tạo đối với lịch sử tư tưởng thế kỷ 18, và cũng là một vị Thiền Sư đặc biệt trong lịch sử Phật giáo Việt Nam” [1]. Nhưng vẫn theo Giáo sư thì: “Cho đến nay, tên tuổi và sự nghiệp của ông đã bị chìm vào quên lãng.”
27/11/2025(Xem: 2788)
Từ thuở bình minh dựng nước, Phật giáo đã có mặt với Dân tộc Việt Nam, góp phần xây dựng nền văn hiến nước nhà. Trải qua bao độ hưng suy, đi qua bao nhiêu triều đại thì Phật giáo vẫn thực hiện sứ mạng truyền bá chánh pháp, gìn giữ nền đức lý của Dân tộc, tạo nên nét đẹp của Đạo Phật Việt giữa lòng quê hương. Đến thời Pháp thuộc, Phật giáo bị đối xử bất công bởi đạo dụ số 10. Giữa lúc nước nhà trong cảnh lầm than, phong trào chấn hưng Phật giáo được phát khởi từ Tổ sư Khánh Hòa, lan rộng khắp ba miền để hướng dẫn tứ chúng quay về con đường chánh pháp.
09/11/2025(Xem: 1993)
Từ khi Đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo dưới cội Bồ Đề tại Gaya, Ấn Độ đến nay đã trải qua 2.660 năm lịch sử và ánh sáng từ bi trí tuệ của Ngài đã cảm hoá những người theo Đạo Phật từ Á sang Âu, từ Âu sang Mỹ, Úc và ngay cả Châu Phi nữa. Điều nầy chứng tỏ rằng Giáo Pháp mà Ngài đã thành tựu dưới cội Bồ Đề ngày xưa ấy đã, đương và sẽ thích hợp với mọi dân tộc, mọi thời đại và mọi nơi chốn trên quả địa cầu nầy.
10/08/2025(Xem: 5872)
Đọc 160 trang sử Phật Giáo hay nói đúng hơn là Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh cũng như Lâm Tế Liễu Quán và Tào Động từ Quảng Bình vào đến Bình Định do Thầy Thích Như Tịnh đương kim Trụ Trì Viên Giác cổ tự tại Hội An Quảng Nam viết, cá nhân chúng tôi vô cùng thán phục. Bởi lẽ sau khi hình thành được tác phẩm giá trị về việc truyền thừa của Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh, Thầy Như Tịnh còn cố công sưu tập đi đến các chốn Tổ đã vang bóng một thời từ Quảng Bình, Quảng Trị, rồi đến Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định v.v… để tìm lại dấu chân xưa chư Tổ đã một thời trác tích.
02/04/2025(Xem: 5293)
Năm 2025 đánh dấu 50 năm (1975-2025) người Việt tị nạn Cộng Sản đã từ bỏ quê hương Việt Nam để tìm đến vùng đất tự do của Hoa Kỳ. Trong số khoảng từ 125,000 đến 130,000 người Việt tị nạn đầu tiên đến Mỹ ngay sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 có nhiều tu sĩ Phật Giáo.(1) Một trong những tiểu bang của Mỹ mà người Việt tị nạn đầu tiên đặt chân đến là California, hay nói chính xác là Căn Cứ Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ Pendleton (Marine Corps Base Camp Pendleton), nằm trong địa hạt Quận San Diego ở miền Nam California. Chính những người Việt tị nạn đầu tiên ở đây là những nhân tố hình thành cộng đồng người Việt tị nạn tại California sau này.
02/10/2023(Xem: 10948)
Được thành lập vào thế kỷ thứ 8, việc xây dựng bắt đầu vào năm 742, Thạch Quật Am (석굴암, nghĩa là Am hang đá) là một Cổ Am và một phần của phức hợp Phật Quốc Tự. Nó nằm cách bốn km về phía đông của ngôi đại già lam cổ tự trên núi Tohamsan, ở Gyeongju, Hàn Quốc, gian chính hình tròn thờ tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cao 3,5m với tư thế Xúc địa thủ ấn (Bhumistarsa Mudra),
01/10/2023(Xem: 10233)
Hội Nam Kỳ nghiên cứu Phật học trong đó có Ngài Khánh Hòa có liên đoàn Học Xã ra đời tức là hội Lưỡng Xuyên Phật học được thành lập năm 1934 ở tại Bến Tre. Hội này quý Thầy giảng dạy cho chư Tăng, chư Ni cũng có những học đường, bắt đầu thỉnh Đại Tạng Kinh ở bên Trung Quốc về bây giờ chúng ta căn cứ theo Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh. Tại sao gọi là Đại Chánh? Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh có tất cả 100 tập. Từ tập 1 tới 65 có Trường A Hàm, Trung A Hàm, Tạp A Hàm, Tăng Nhất A Hàm và những bộ kinh thuộc về Mật Tạng, Hòa Thượng Tịnh Hạnh cũng đã cho dịch ra thành 187 tập. Từ tập 188 cho đến tập thứ 202 nay mai sẽ được xuất bản. Riêng Thanh Văn Tạng nó có tính cách Hàn Lâm. Trong thời gian qua HT Tuệ Sỹ đã cho dịch thành Thanh Văn Tạng rồi trong tương lai sẽ có Bồ Tát Tạng, tiếp theo nữa sẽ là Mật Tạng.
04/07/2023(Xem: 11727)
Hôm nay ngày 22.6.2023. Trước đây thầy Hạnh Tấn làm Thư ký ở trong ban Hoằng Pháp của Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu. Chỗ này tôi xin xác định một chút cho Quý Vị rõ về hai cơ cấu, hai vai trò không phải là một. Ôn Tâm Huệ là trưởng ban truyền bá giáo lý Âu Châu; Thầy Hạnh Tấn làm thư ký cho ban truyền bá giáo lý Âu châu thuộc về Hội Đồng Hoằng Pháp của giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu. Khi mà ôn Tuệ Sỹ thành lập Hội Đồng Hoằng Pháp vào năm 2021
03/05/2023(Xem: 170174)
Chết và tái sinh. Thích Nguyên Tạng (sách, tái bản 2007) Phật giáo khắp thế giới . Thích Nguyên Tạng (sách) Pháp Sư Tịnh Không, người truyền bá giáo lý Tịnh Độ (sách) Từ bi và nhân cách . Dalai Lama. Thích Nguyên Tạng dịch (sách) Pháp ngữ của Hòa Thượng Tịnh Không . T. Ng. Tạng dịch (sách) Hỏi hay đáp đúng . Ven. Dhammika. Thích Nguyên Tạng dịch (sách) Các Bộ Phái Phật Giáo ở Ấn Độ. Dr.Nalinaksha Dutt.T Ng. Tạng dịch (sách)