Đạo Phật và Dòng Sử Việt

09/04/201314:24(Xem: 21553)
Đạo Phật và Dòng Sử Việt



suviet-bia

ĐẠO PHẬT VÀDÒNG SỬ VIỆT

Hòa Thượng Thích Đức Nhuận

a của Họa Sĩ Phượng Hồng,
Trình Bày: Duy Nhiên, Phật Học Viện Quốc Tế California Hoa Kỳ ấn hành 1998

---o0o---


Lịch sử là ghi chép những hình ảnh, sự kiện và tư tưởng của từng thời đại; đón tìm một tía sáng bất diệt cho tương lai. Mỗi trang sử là một bài thơ hùng tráng, lẫm liệt, đôi khi lại là thất bại khổ đau. có sức mạnh làm rung động tim óc con người không ít. (T.G)

LỜI MỞ ĐẦU

Đây làtập sơ thảo về ĐẠO PHẬT VÀDÒNG SỬ VIỆTđược viết ra để giảng cho sinh viên "Chứng chỉ năm thứ nhất" của Phân Khoa Phật Học và Triết Học Đông Phương, Viện Đại Học Vạn Hạnh, niên khóa 1969 - 1970.

Mục đích của môn học lànhằm giúp cho sinh viên hiểu biết về nguồn gốc Đạo Phật Việt Nam, từ sơ khai đến hiện đại.

. Ngay từ buổi bình minh tự chủ của dân tộc, Đạo Phật đãcó những mối duyên liên hệ thắm thiết đến sự tồn vong của dòng sinh mệnh Việt nam: Dân tộc Việt nam, về nhân chủng, có nguồn gốc Mélanesien và Indonesien cùng với các nước Đông Nam Á láng giềng trực tiếp thụ nhận tinh hoa Đạo Phật vốn có chung một truyền thống sinh hoạt văn hóa "nông nghiệp thảo mộc". - Một nền VĂN HOÁ NHÂN BẢN bao dung, trí tuệ và khai phóng, đượm sắc tháihiếu sinh, hiếu hòa, và giải thoát.

Và, như chúng ta đã biết, khi hệ giáo lý Giác Ngộ, Giải thoát và Tự chủ của Đạo Phật được truyền vào Việt Nam thì người Việt đã rất nồng nhiệt hân hoan đón nhận một cách chân tình, coi đó như làMạch Sống Của Dân Tộc hợp với lối sống tình cảm, tâm linh, đạo đức, suy tư vàhành xử của người bản địa.

Do những nhân duyên hội ngộ ấy, Đạo Phật có mặt tại Việt Nam, với chiều sâu và bề dày lịch sử XX thế kỷ, đã cùng với dân tộc phấn đấu giành quyền cho một nước Việt Nam tự chủ, độc lập; đãgây dựng nên một nếp sống "dân phong quốc tục" đẹp làm vẻ vang cho nòi giống Việt. Xuyên qua những đóng góp to lớn trong công cuộc dựng nước và giữ nước của Đạo Phật Việt, kể từ các Vương triều: Tiền và Hậu Lý Nam Đế (542 - 603) mở đầu nền tự chủ cho nước nhà; đến nhà Đinh (968 - 980) vàTiền Lê (980 - 1009), Đạo Phật mặc nhiên được triều đình công nhận coi là quốc giáo của toàn dân; sang nhà Lý (1010 - 1225) và tiếp theo nhà Trần (1225 - 1400), Đạo Phật lại càng được phát triển mạnh trong đời sống xã hội. đồng thời mở mang trên khắp mặt sinh hoạt quốc gia, đem an vui hạnh phúc đến với toàn dân; từ bi thương yêu tràn ngập. thì đồng thời nền văn hóa Đại Việt cũng vươn lên tuyệt đỉnh vinh quang!

Với những sự thật lịch sử như đãtrình bày, tôi mạo muội đặt tên cho tập tiểu luận: ĐẠO PHẬT VÀ DÒNG SỬ VIỆT, xin thân tặng toàn thể Phật giáo đồ, những người biết thương yêu tổ quốc Việt Nam và phụng sự chính pháp.

Mùa Sen nở, Phật đản 2527 - TL 1984

Trí Tạng - THÍCH ĐỨC NHUẬN


-o0o-

MỤC LỤC CHI TIẾT

* Lời mở đầu

* Ðạo Phật Việt thế kỷ thứ nhất và thời kỳ Bắc thuộc (111 TTL – 542 TL)

  • Thời đại Hùng Vương qua truyện tích Tiên Dung Mỵ Nương và Chử Ðồng Tử
  • Ðạo lý Nhân quả - Luân hồi - Nghiệp báo trong nếp sống người Việt:

* Về thực chất cuộc sống

* Về phương diện sáng tác

  • Sang đầu thế kỷ II (168 –189) do 4 vị Phạm Tăng:

* Ma Ha Kỳ Vực

* Khang Tăng Hội

* Chi Cương Lương

* Mâu Bác (cũng gọi là Mâu Tử)

từ Ấn Ðộ - Trung Hoa tới Giao Châu hoằng hoá Ðạo Phật

* Công nghiệp dựng nước thời đại tiền vàhậu Lý Nam Ðế thế kỷ VI (TL 542 – 602)

    • Lần thứ nhất, tỗ Tỳ Ly Ða Lưu Chi, người nam Ấn Ðộ, đem thiền học vào nước Vạn Xuân
  • Năm 820, dòng thiền thứ II, do ngài Vô Ngôn Thông từ Trung Hoa đến Việt Nam mở đạo tràng truyền bá chính pháp

* Cuộc chống quân xâm lăng nhàNam Hán của Ngô Quyền (939 – 967)

* Ðạo Phật thời kỳ tự chủ nhà Ðinh (968 – 980) và Tiền Lê (981 – 1009)

* Những đóng góp to lớn của Ðạo Phật cho dân tộc, dưới triều Lý (1010 –1225)

* Về chính trị

* Về cơ cấu tổ chức hành chính

    • Năm 1054, vua Thánh Tông đổi nước làÐại Việt

* Về ngoại giao

* Về quân sự:

      • Cuộc đánh cảnh cáo nhà Tống dưới thời vua Lý Nhân Tông năm 1075
    • Cuộc khởi binh của Tống đánh nước Ðại Việt
    • Mùa xuân, năm 1077, Lý Thường Kiệt chiến thắng quân Tống trên sông Như Nguyệt
  • Thế kỷ XI, Ðạo Phật Việt có thêm dòng thiền thứ III, Dòng Thiền Thảo Ðường

* Về luật pháp:

    • Năm 1042, nhàLý ban hành bộ Hình Luật đầu tiên ở nước ta
  • Năm 1171, triều đình nhà Lý cho vẽ bản Ðịa Dư Toàn Quốc

* Về kinh tế và an sinh xã hội

* Về nông nghiệp

* Về thủ công nghệ

* Về thương nghiệp

* Về giáo dục và thi cử

* Về văn học

  • Nền văn hóa đời Lý:

a/ Thơ sấm truyền

b/ Tản văn: chiếu, biễu, bia, ký

c/ Truyện tích: văn ngữ lục, di ngôn của các thiền sư

* Ðạo Phật đời nhà Trần (1225 – 1400)

Ba thời kỳ đánh quân Mông Nguyên:

  • Lần thứ nhất, ngày 29 – 1 – 1258, vua Trần Thái Tông và đại quân từ Thiên Mạc

kéo về giải phóng Thăng Long, đánh đuỗi quân Mông Cỗ ra khỏi bờ cõi nước ta

  • Lần thứ hai thời đại Trần Nhân Tông
      • Ðầu năm 1283, Vua cho mở Hội Nghị Bình Than
    • Thánh 9 năm 1284, vua chủ toạ cuộc duyệt binh tại Ðông Bộ Ðầu

- Hưng Ðạo Ðại Vương truyền hịch cho các tướng sĩ

    • Năm 1285, Vua triệu tập Hội Nghị Diên Hồng
    • Ngày 24 – 6 – 1285, Hưng Ðạo Ðại Vương đánh tan quân Nguyên, chém Toa Ðô,

Ô Mã Nhi sợ hãi chạy thoái về Tàu.

    • Trên mặt trận Vạn Kiếp, Thoát Hoan phải chui vào ống đồng mới thoát chết. Bắt sống hơn ba vạn quân, tịch thu rất nhiều chiến thuyền và khí giới của địch.
  • Lần thứ ba, ngày 4 – 2 1288, chiến trận diễn ra trên sông Bạch Ðằng, các tướng: Ô Mã

Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ… đều bị bắt sống

  • Ngày 28 – 4 – 1288, xa giá Thượng Hoàng và Vua cùng triều đình về lại Thăng Long

* Vua Trần Nhân Tông, đệ nhất tỗ thiền phái trúc Lâm Yên Tử (1258 – 1308)

* Ðệ nhị tỗ tôn giả pháp loa (1284 – 1330)

* Ðệ tam tỗ tôn giả Huyền Quang (1254 – 1334)

* Khóa Hư Lục, một kiệt tác phẩm của nền văn học dân tộc Việt, thế kỷ XIII

  • Lời tựa
  • Bài kệ 4 núi
  • Tầng núi thứ nhất
  • Tầng núi thứ hai
  • Tầng núi thứ ba
  • Tầng núi thứ tư
  • Ðịnh nghĩa hai chữ Khoa Hư
  • Phổ khuyến sắc thân

( Tức nói về thân phận con người trước cuộc đời)

  • Phổ khuyến phát Bồ Ðề Tâm (khuyên mọi người mở lòng Bồ Ðề)

Lục thời sám hối khoa nghi

(Trong 6 thời khóa lễ, mỗi khoa có những nghi thức khác nhau. Ngoại trừ các bài kệ dâng hương,

dâng hoa, khuyến thỉnh, tùy hỷ, hồi hướng là có tính cách đồng nhất, vì là kệ. Còn những bài văn khác, như: khải bạch, sám hối, phát nguyện tuy có chung một tiêu đề nhưng về nội dung, mỗi bài

văn mang những tâm tư ý nghĩa khác nhau)

  • Cuối Khóa Hư Lục là một bài kệ khuyên mọi người tiến tu của Hoàng Ðế Thái Tông

* ÐạoPhật từ thế kỷ XVII đến hậu bán thế kỷ XX

  • Ðạo Phật suy từ cuối thế kỷ XIV: Nhà Hồ diệt nhà Trần, tiếp giặc Minh xâm lược nước ta ròng rã 20 năm. Năm 1428, LêLợi dẹp yên giặc Minh, nhà Lê lấy Nho giáo làm kỷ cương trị nước.
  • Nguyên nhân suy thoái của Phật giáo có nhiều lý do:

1/ Theo luật vô thường chuyển biến

2/ Thời gian Nho giáo chiếm địa vị độc tôn

3/ Ðất nước không may gặp cảnh nội loạn ngoại xâm từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XX

4/ Thực dân Pháp cai trị nước ta trong 83 năm (1862 – 1945)

    • Thực dân Pháp cai trị nước ta trong 83 năm (1862 – 1945)

  • Phật giáo thời hậu bán thế kỷ XX,

* Năm 1930, giới tăng sĩ vàcư sĩ tri thức trong nước phát khởi công cuộc Chấn Hưng Phật Giáo:

* Năm 1931, ở Nam Kỳ thành lập Hội Nghiên Cứu Phật Học và Hội Lưỡng Xuyên Phật Học.

* Năm 1932, tại Trung Kỳ thành lập HộI Việt Nam Phật Học

* Năm 1934, Bắc Kỳ thành lập HộI Việt Nam Phật Giáo

( Các hội đều có mở các trường tiểu học, trung học, đại học và xuất bản báo chí để truyền bá chính pháp)

* Năm 1952, ba Giáo Hội Tăng Giànam trung bắc họp hội nghị tại chùa Quán Sứ Hà Nội

thành lập Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc. Ðến năm 1959 đỗi là GIÁO HỘI TĂNG GÌÀ VIỆT NAM

* Cuộc vận động của Phật giáo Việt Nam chống chính thễ độc tài gia đình trị Ngô Ðình Diệm, 1963

Những diễn biến của cuộc vận động:

* Ngày 6 – 5 – 1963, Nhà Ngô ra thông điện cấm treo cờ Phật giáo trong ngày đại lễ Phật đản PL năm 2507

* Ngày 8 – 5 – 1963, hàng vạn tăng, ni, Phật tử tỗ chức cuộc rước Phật lớn từ chùa Diệu Ðế

về chùa Từ Ðàm, và tối hôm đó có cuộc biểu tình tại đài phát thành Huế: yêu cầu đài này cho truyền thanh buổi lễ nhưng không được đài chấp thuận; khoảng 10 giờ hơn thì xảy ra cuộc đàn áp do chính quyền sở tại chủ động làm chết 8 người và nhiều người bị thương…

* Ngày 9 – 5 – 1963, tổng trị sư Giáo Hội Tăng Già Việt Nam họp khẩn gửi kháng thư cho tỗng thống Diệm phản đối việc cấm treo cờ Phật Giáo và việc đàn áp đẫm máu đêm 8 tháng 5

tại Huế.

* Ngày 10 – 5– 1963, 5 tập đoàn Phật Giáo Trung Phần (Huế) ra Tuyên Ngôn chống lệnh treo cờ Phật giáo của chính phủ và yêu cầu 5 điễm:

  • Chính phủ VNCH thu hồi vĩnh viễn công điện triệt giáo kỳ của Phật giáo.
    1. Phật Giáo phải được hưởng một chế độ đặc biệt như các hội truyền giáo thiên chúa đã được ghi trong đạo dụ số 10.
    1. Chính phủ chấm dứt tình trạng bắt bớ, khủng bố tín đồ Phật giáo.
    1. Cho tăng, tín đồ Phật giáo được tự do truyền đạo vàhành đạo.
  1. Chính phủ đền bồi một cách xứng đáng cho những kẻ bị chết oan vô tội vàkẻ chủ mưu giết

hại phải đền tội đúng mức.

    • Ngày 25 – 5 – 1963, Tỗng Hội Phật Giáo Việt Nam triệu tập 10 giáo phái hội đoàn thành lập Ũy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo và ra tuyên ngôn:
    • Ủng hộ toàn diện nguyên vẹn 5 nguyện vọng tối thiễu và thiêng liêng nhất của PGVN đãghi trong bản tuyên ngôn của 5 tập đoàn PGVN Trung Phần và Thừa Thiên.
  • Thề nguyện đoàn kết đến cùng trong cuộc tranh thủ bất bạo động và hợp pháp đễ thực hiện những nguyện vọng ấy.
    • Hòa thượng hội chủ THPGVN hiệu triệu gửi toàn thể tăng, ni, Phật tử VN
    • Diễn từ của hòa thượng hội chủ THPGVN mở đầu cuộc tuyệt thực 24 giờ ngày 30 – 5 trên khắp trụ sở Phật giáo thuộc miền đất Việt Nam Cộng Hòa.
    • Ánh đuốc Quảng Ðức.
    • Cuộc họp giữa Ũy Ban Liên Bộ và Ũy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo trong các ngày 14, 15,16 tháng 6 năm 1963 tại hội trường Diên Hồng và ký bản Thông Cáo Chung.
    • Lời hiệu triệu của vị hội trưởng hội Phật Giáo thế giới.
    • Lời kêu gọi của đoàn Thanh Niên Bảo Vệ Phật Giáo
  • Cuộc khủng hoảng tôn giáo được coi như làmột làn sóng Cách Mạng.
  • (Theo báo The Washington Post, 23-6-1936)
  • Ũy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo kiến nghị phản đối nghị định số 358BNV/KS 9 – 7 – 1963, vàyêu cầu chính phủ thực thi bản Thông Cáo Chung.
  • Ngày 7 – 7 – 1963, chính quyền đem những nhân sĩ tham dự cuộc đảo chính hụt ngày 11 – 11 – 1960 ra xét xử tại tòa án tối cao SG

* Nhà văn nhất lịnh NGUYỄN TƯỜNG TAM vì không muốn đễ cho một chế độ không xứng đáng xử mình nên đã uống thuốc độc tự vẫn để cảnh cáo những người chà đạp mọi thứ tự do.

  • Ngày 14 – 7 – 1963, hòa thượng hội chủ THPGVN ra thông bạch kêu gọi tăng, ni và toàn thễ Phật

tử tái phát động phong trào đòi hỏi sự thực thi nghiêm chỉnh ban thông cáo chung

    • Sự hòa giải giữa chính phủ và Phật Giáo đều không chấm dứt được tình thế khẩn trương
    • Cuộc biễu tình, tuyệt thực của chư vị Tăng, Ni tại chùa Xá LợI
    • Biểu tình ngày 17 – 7 – 1963 "Ðến thăm thầy chúng tôi"
    • Lá tâm thư của một Phật tử kính dâng hòa thượng Thích Quảng Ðức
  • Lời hiệu triệu của đoàn Sinh viên Liên giáo, gửi toàn thể sinh viên, học sinh Việt Nam, kêu gọi

ủng hộ cuộc tranh đấu chính nghĩa của Phật giáo Việt Nam.

  • Một biến chuyễn bất ngờ ông Diệm nói với Phật giáo đồ: chúng ta hãy hòa giải (bản tin UPI)
  • Hết tin tưởng – Phật giáo từ chối lời hòa giải của ông Diệm

(Theo báo the New york times, ngày 17– 7–1963)

Ngày 22– 7–1963, UBLPBVPG họp báo tố cáo chính quyền không chịu thi hành bản thông cáo chung

Ánh đuốc Nguyên Hương

Ánh đuốc Thanh Tuệ

Ánh đuốc Diệu Quang

Ánh đuốc Tiêu Diêu (Dao)

Tối Ngày 20–8–1963, chính phủ Ngô Ðình Diệm mở cuộc tỗng càn quét các chùa chiền bắt tất cả tăng, ni đưa đến nhốt tại trại Rạch Giá ngoại ô Sài Gòn

Ngày 21–8–1963, trên 300 sinh viên, học sinh biểu tình phản đối và yêu cầu chính phủ:

1/ Thực sự tôn trọng và bảo vệ tự do tín ngưỡng

2/ Trả tự do cho tăng, ni và tín đồ Phật giáo,sinh viên, học sinh và giáo sư hiện bị giam giữ

3/ Chấm dứt tình trạng khủng bố bắt bớ hành hạ tín đồ Phật giáo

4/ Giải tỏa chùa chiền, ban bố tự do ngôn luận

Ánh đuốc Quảng Hương

Ánh đuốc Thiện Mỹ

Ngày 1–11–1963, Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng làm cuộc đảo chính lật đổ chế độ độc tài gia đình trị Ngô Ðình Diệm

Ngày 31–12–1963, Tỗng Hội Phật Giáo Việt Nam và 10 giáo phái, hội đoàn gồm các tăng sĩ và cư sĩ Bắc tông – Nam tông đã mở hội nghị tại chùa Xá Lợi trong 5 ngày để thảo luận một bản Hiến Chuơng đã được đại biễu biễu quyết vàthành lập GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆTNAM THỐNG NHẤT

Hiến Chương Giáo Hội Phật Giáo VNTN

Hình thái tỗ chức Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam

Tiến trình lịch sử và nhu cầu hiện đại đòi hỏi sự thống nhất Ðạo Phật Việt

Ðề nghị: Một biện pháp xây dựng GHPGVN

Hiến Chế GHPGVN

Lời kết

Phụ lục

- Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni

- Bài thơ NAM QUỐC SƠN HÀ

- Bản đồ Việt Nam đời Lý Trần

- Bản đồ nước Ðại Việt khi nhà Trần chống với Mông Cỗ

- Bản đồ kháng chiến lần thứ nhất chống quân xâm lược đế quốc Mông Cỗ

- Bản đồ kháng chiến lần thứ II chống quân xâm lược Nguyên

- Bản đồ kháng chiến lần thứ III - 1288

- Bản đồ chiến thắng Bạch Ðằng

(Những bản đồ trên trích dẫn trong Lịch Sử Việt Nam tập I và Lược Sử Việt Nam tập II)


---o0o---

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/08/2018(Xem: 21804)
Sau Hiệp định Paris 1973, những người lính Mỹ cuối cùng rút khỏi Việt Nam. Từ đó đến nay đã 45 năm, những “di chứng” chiến tranh vẫn còn trên mảnh đất này, và di chứng ấy còn trong tâm trí những người lính ở bên kia bán cầu. Bên cạnh việc hóa giải nỗi đau hiện hữu của chiến tranh, thì hóa giải những uẩn khúc trong lòng người cũng cho thấy nỗ lực phục thiện mà tất cả mọi người bất kể chiến tuyến đều hướng đến. Một buổi trưa đầu tháng 6 năm 2018, có bốn người cựu binh Mỹ tuổi chừng tám mươi tìm về ngôi chùa làng Bồ Bản (xã Triệu Trạch, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị). Trên xe bước xuống, ông Anderson ôm trước ngực một bức tượng Quán Thế Âm Bồ-tát màu trắng, trang nghiêm đi vào chùa. Đại đức Thích Mãn Toàn, người trụ trì ngôi chùa ra tiếp đoàn. Anderson hỏi Đại đức Thích Mãn Toàn đây có phải chùa Trường Khánh không? Đại đức Thích Mãn Toàn đáp phải, cả vùng chỉ một ngôi chùa này tên Trường Khánh, người dân thường gọi là chùa Bồ Bản. Ông Anderson chưa dám tin lời vị sư trụ trì mà v
06/08/2018(Xem: 10912)
Miền đất võ Bình Định cũng là miền đất Phật, miến “Đất LànhChim Đậu”, được nhiềuchư thiền Tổ ghé bước hoằng hóa và chư tôn thiền đức bản địa xây dựng mạnh mạch Phật đạo từ trong sâu thẳm, qua nhiểu giai đọan, thời gian, đã xây dựng nên hình ảnh Phật giáo Bình Định rạng rở như ngày hôm nay. Đặc biệt trước tiên có thể kề đến Tổ Nguyên Thiều ( 1648 – 1728 ), Hòa thượng Thích Phước Huệ ( 1875 – 1963 ), Hòa Thượng Bích Liên-Trí Hải ( 1876 – 1950 ), v…v…Nêu chúng ta tính từ thời chúa Nguyễn Phúc Tần ( 1619 – 1682 ), khi Tổ Nguyên Thiều từ Quảng Đông (Trung Quốc) sang An Nam và an trú ở Quy Ninh (tức Bình Định ngày nay) vào năm Ất Tỵ (1665 ) và kiến tạo chùa Thập Tháp Di Đà , thí Phật giáo Bình Định đã thực sự bước vào trang sử chung trong công cuộc hoằng hóa của Phật giáo Việt Nam. Hơn thế nữa, Tổ Nguyên Thiều còn là cầu nối giữa Phật giáo hai nước An Nam và Trung Hoa, trao đổi nhiều kinh điền có giá trị để cùng nhau tu học. Điều này cho thấy, lý tưởng Từ Bi và con đường hoằng
20/07/2018(Xem: 20641)
Vào tháng 10, mùa đông, nhằm tiết đại hàn, giá lạnh, vua Lý Thánh Tông (1023 – 1072) nói với các quan hầu cận rằng: "Trẫm ở trong cung, sưởi than xương thú, mặc áo lông chồn còn rét thế này, nghĩ đến người tù bị giam trong ngục, khổ sở về gông cùm, chưa rõ ngay gian, ăn không no bụng, mặc không kín thân, khốn khổ vì gió rét, hoặc có kẻ chết không đáng tội, trẫm rất thương xót. Vậy lệnh cho Hữu ty phát chăn chiếu, và cấp cơm ăn ngày hai bữa.” (1)
19/06/2018(Xem: 6911)
Tộc Bùi ở làng Vĩnh Trinh, huyện Duy Xuyên là một dòng tộc lớn vang danh trong nước không những vì “của nhiều người đông” mà còn vì có lắm nhân tài ở mọi lãnh vực với những tên tuổi chói sáng như nhà báo Bùi Thế Mĩ, bác sĩ Bùi Kiến Tín, thi hào Bùi Giáng, nhà giáo Bùi Tấn v.v… Vị thủy tổ của đại tộc này chính là nhà doanh điền Bùi Tấn Diên, Tiền hiền làng Vĩnh Trinh.
14/06/2018(Xem: 15147)
Khoảng tháng 3 vừa rồi, Hòa Thượng Thích Như Điển, Phương Trượng Chùa Viên Giác (Đức Quốc) gởi cho chúng tôi bản final cuốn Mối Tơ Vương Của Huyền Trân Công Chúa với lời dặn dò: viết Lời cuối sách. Đọc thư Thầy, chúng tôi vô cùng băn khoăn, lo lắng và hơi bị “ngộp” dưới cái bóng quá lớn và ảnh hưởng rộng khắp của Thầy. Chúng tôi “ngại” vì biết Thầy có nhiều mối quan hệ thân thiết với các bậc tài danh khắp nơi. Ngược lại, chúng tôi chỉ là kẻ sơ học nhiều mặt mà lại dám chắp bút viết Lời cuối sách này? Chúng tôi rất đắn đo trước cái vinh dự to lớn ấy, trước cái trách nhiệm nặng nề này. Nhưng rồi anh Văn Công Tuấn nhiều lần “trấn an”, khích lệ. Và rồi, lại nghĩ rằng, Thầy Như Điển có lòng ưu ái, thương tưởng và muốn tạo điều kiện cho chúng tôi trong bước đầu tập tễnh học Phật. Xin cung kính niệm ân Thầy; và cũng qua đây kính mong quý vị độc giả thông cảm và lượng thứ cho những thiếu sót và non nớt không sao tránh khỏi, dù đã có nhiều
21/03/2018(Xem: 22468)
Chúng ta đang ở vào năm thứ 18 của Thế Kỷ 21 và chỉ còn 82 năm nữa nhân loại sẽ bước vào Thế Kỷ 22. Có rất nhiều biến động của thế kỷ trước mà chúng ta đã quên mất rồi. Nhân dịp về hưu rảnh rỗi tôi lục lại cuốn Biên Niên Sử Thế Kỷ 20 (Chronicle of the 20th Century) để xem nhân loại phát minh ra những gì, chịu những thống khổ, những vui buồn như thế nào và có bao nhiêu cuộc chiến tranh giữa các đế quốc. Sự thực phũ phàng của 118 năm qua là, một quốc gia tuy nhỏ bé nhưng có vũ khí tối tân và bộ máy quân sự khổng lồ vẫn có thể bá chủ thế giới và biến các quốc gia to rộng gấp mười lần mình thành nô lệ. Do đó muốn tồn tại trong độc lập, ngoài phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học, lúc nào cũng phải tăng cường binh bị, vũ khí cho kịp đà tiến triển của nhân loại. Sách lược ngoại giao cũng là một vũ khí nhưng sức mạnh quân sự của một quốc gia là loại vũ khí vững chắc nhất.
18/03/2018(Xem: 8432)
(Lắng lòng viết về đêm thắp nến 50 năm tưởng niệm và cầu nguyện cho nạn nhân biến cố Mậu Thân-Huế 1968-2018, tổ chức tại TTVHPGPV ngày 10.03.2018) Một thời máu lửa đạn bom Quê hương tang tóc, hồn hoang tru gào Từng trang sử, đẫm lệ trào Ngày im tiếng súng nghẹn ngào gọi nhau! (Một Thời-Tâm Không Vĩnh Hữu)
29/01/2018(Xem: 8451)
Nữ sĩ Huỳnh thị Bảo Hòa với “Bà Nà du ký” Châu Yến Loan
29/01/2018(Xem: 18951)
Nhà Chu (1122-256 Tr TL), triều đại kế tiếp nhà Hạ (2205-1767 Tr TL), nhà Thương (1766-1122 Tr TL), là triều đại cai trị lâu dài nhất so với bất cứ triều đại nào khác trong lịch sử Trung Quốc. Nhà Chu có gốc từ một bộ tộc ở đất Thai (Thiểm Tây), sau chuyển về đất Bân (Thiểm Tây). Khi Cổ Công Đản Phủ (sau được phong là Chu Thái Vương) dời về đất Bân (tỉnh Thiểm Tây), đất Bân thường bị địch xâm lấn ở không yên mới bỏ đất Bân, vượt núi Lương đến định cư dưới chân núi Kỳ Sơn. Thái Vương có ba người con, trưởng là Thái Bá, thứ là Trọng Ung, con út là Quý Lịch. Nhiều sách nói không biết Thái Bá tên là gì, nhưng theo thứ tự trong gia đình gọi trưởng là thái hay mạnh, thứ là trọng cuối là quý thì ông tên là Bá (Thái Bá), hai em ông người tên là Ung (Trọng Ung), người út tên là Lịch (Quý Lịch).
01/01/2018(Xem: 50924)
Đại Bảo tháp Phật giáo cổ xưa Nelakondapalli ở huyện Khammam đang ở giai đoạn cuối của việc tu sửa. Với kinh phí khoảng 6 triệu Rupee, Cục Khảo cổ học và Bảo tàng đã thực hiện công việc để Đại Bảo tháp khôi phục lại vinh quang ban đầu và để bảo tồn kiến trúc cổ xưa này cho hậu thế. Di tích Phật giáo này, tọa lạc cách thị trấn Khammam khoảng 22 km, là một trong những điểm đến du lịch nổi tiếng nhất của bang Andhra Pradesh. Đại Bảo tháp đồ sộ, vốn đã tồn tại qua nhiều thế kỷ của sự hao mòn, đang được tu sửa sau khi cư dân và các sử gia địa phương nhiều lần cầu xin để bảo tồn di tích lịch sử có tầm quan trọng lớn lao về khảo cổ học này. Cục khảo cổ học cho biết loại gạch đặc biệt được đặt làm cũng như các vật chất kết nối tự nhiên đã được sử dụng để tăng cường cho cấu trúc của Đại Bảo tháp. (bignewsnetwork – April 18, 2015)