4. Mila gặp gỡ một thiền giả

09/01/201106:18(Xem: 6870)
4. Mila gặp gỡ một thiền giả

4

Mila gặp gỡ một thiền giả


Một ngày ấm áp khi Jetsušn Repa vĩ đại đang tu hành ở Núi Khối Đỏ trên đồng bằng Gungthang, một thiền giả đi đến. Mila hỏi ông : “Thầy đến từ đâu ?”

Ông trả lời : “Tôi đến từ vùng UŠ sau khi nghe danh tiếng của một lama Jetsušn tên là Milarepa. Thánh giả Jetsušn ấy sống ở đâu ?”

Để trả lời Mila hát cho ông bài ca này :

Con đảnh lễ dưới chân Marpa, vị siêu việt của loài người,
Không cách ly mảy tóc với Vajradhara vĩ đại.
Xin hãy hướng dẫn con, tâm ngài không mảy may chệch hướng,
Khỏi trạng thái của thực tại bất biến.

Ông, nhà khổ hạnh xứ UŠ, đến từ vùng đất thấp,
Tìm kiếm thiền giả Mila để xin những lời chỉ dạy.
Vậy thì, hãy thấu hiểu sự giải thích này !

Trong ba tháng xuân khi chúa của hơi ấm xuất hiện
Và những nguyên tố của nóng và lạnh cạnh tranh nhau,
Tiếng “ù ù” vang dội trong bầu trời
Được gọi là Con Rồng Xanh.

Dầu cho tên gọi và danh tiếng là vĩ đại,
Nhưng khi gặp hình thể thực của nó
Nó có một miệng rộng, cổ nhỏ, đuôi dài.

Dầu cho tên gọi và hình thể không khớp nhau,
Tiếng của nó được xem là điềm rất tốt lành.
Thế nên nó được gọi là con rồng vĩ đại của bầu trời,
Kẻ chia mùa hạ và mùa đông,
Viên ngọc trai của mùa mưa đúng thời.
Hãy hiểu đây là một điều kinh ngạc lớn !

Dưới những dòng nước của đại dương ngoài kia
Trên cái bục bằng vàng của đại dương,
Vị chủ tể của biển cả ngồi đó
Được gọi là Con Rùa Vàng Vĩ Đại.

Dầu cho tên gọi và danh tiếng là lớn lao,
Nhưng khi gặp hình thể thực của nó
Nó giống như một cái bình đất sét lật úp
Với miệng thì rộng còn chân ngắn ngủn.

Dầu cho tên gọi và hình thể không khớp nhau,
Nó được gọi là Rùa Vàng Vĩ Đại.
Nó là sự trang sức vĩ đại cho những đại dương,
Là thuốc để thuần hóa những hồn linh thiên nhiên,
Vũ khí bảo vệ những vùng thảm họa,
Và là kẻ chinh phục những con rắn độc.
Hãy hiểu đây là một điều kinh ngạc lớn !

Ở Tây Tạng này, những con quỷ mặt đỏ,
Yaksha (dạ xoa), và vô số hồn ma
Luôn luôn tìm cơ hội làm hại.
Còn chính tôi, người nổi tiếng như là Milarepa ;
Và dầu cho tên gọi và danh tiếng là lớn lao,
Nhưng khi gặp hình thể thực của tôi,
Tôi trần truồng, thân xanh như lá.

Dầu cho tên gọi và hình thể không khớp nhau,
Tôi có khả năng thực hành pháp khổ hạnh ;
Như thế tôi là vương miện của những người cầu Pháp,
Một thiền giả giữ gìn những giáo lý
Với sức mạnh chiến thắng những quỷ ma.
Hãy hiểu đây là một kinh ngạc lớn !

Ba cái này – bài ca, ví dụ và ý nghĩa,
Là cách giải thích của Mila
Nhưng thật ra Milarepa này
Chỉ là tên gọi, biểu tượng và chỉ định –
Trống rỗng như vỏ trấu, không có chất thể,
Vô tự tánh – như thế tôi không hề chỉ dạy.

Đây là quà tặng cho ông, hỡi thiền giả.
Bạn có nắm được ý nghĩa không, hỡi nhà khổ hạnh ?

Tràn đầy thán phục, thiền giả lễ lạy, đi nhiễu vòng quanh Mila và rồi quỳ gối chắp tay : “Lúc ban đầu tôi đã không biết chính là ngài. Tha thứ cho tôi. Tôi kinh ngạc khi thấy ngài có thể ở trong một chỗ ẩn cư hoang vắng mà không sợ hãi, lo âu.”

Jetsušn trả lời : “Nếu một thiền giả sợ phải ở nơi ẩn cư núi non, người ấy không nếm được thậm chí mùi hương của thiền định. Ông phải nhận biết mục đích, nó là trạng thái bổn nhiên, qua học tập và tư duy. Rồi sau khi nhận những giáo huấn sâu xa từ một vị lama chân chính và cắt đứt những tạo tác tâm thức, thấu rõ mục tiêu của thiền định nhất tâm. Một người như vậy mới được gọi là “thiền giả”. Những người lang thang khắp miền mà không có bằng chứng của kinh nghiệm và chứng ngộ, khất thực thức ăn và làm điều gì họ thích là những người bị tà ma nhiếp phục. Bởi thế, hãy nghe và suy xét kỹ bài ca này của tôi.”

Pháp vương của lòng tốt không lay chuyển,
Dịch giả mà tên tuổi hiếm được nghe đến –
Hỡi dịch giả vĩ đại Marpa
Con cầu nguyện – xin ban cho con ân phước !

Khi Đại Ấn vĩ đại đã biểu lộ,
Một thiền giả không sợ ngay cả tiêu tan cái thân như huyễn này.
Vừa lúc thấu rõ rằng những kinh nghiệm bên trong và bên ngoài đều như huyễn,
Một thiền giả không sợ ngay cả những đạo quân của bốn loại Ma.

Khi đã chấm dứt sự bám luyến vào cuộc đời,
Một thiền giả không sợ ngay cả sự hoại diệt toàn bộ của ba cõi.
Khi có thể điều phục những năng lực trong thân
Một thiền giả không sợ phải lang thang trong sương mù của ba cõi.

Thiền giả tràn đầy xúc cảm và thốt lên : “Lama Jetsušn quý báu, ngài có danh tiếng lớn, và điều đó thật như vậy. Kỳ diệu thay ! Kỳ diệu thay ! Bây giờ xin ngài giải thích như thế nào thế giới hình tướng này xuất hiện.”

Mila bèn hát bài ca này :

Con đảnh lễ dưới chân của lama chân thật
Người đã chỉ cho con rằng mọi tướng đều như huyễn.

Ông có biết những hình tướng này là gì ư ?
Nếu không biết, tôi sẽ nói cho ông :
Những hình tướng này xuất hiện khắp nơi ;
Với người không chứng ngộ thì chúng là sanh tử,
Nhưng với người chứng ngộ, chúng chiếu diệu như là Pháp thân.
Khi những hình tướng chiếu diệu như là Pháp thân
Chớ tìm kiếm một tri kiến nào khác từ những nguồn nào khác.

Ông có biết làm sao để trưởng dưỡng cái tâm ư ?
Nếu không biết, tôi sẽ nói cho ông :
Chớ tìm cách chỉnh trị, thao tác gì với tâm ;
Chớ cố gắng khiên cưỡng kiểm soát tâm.
Hãy an nhiên buông xả như một trẻ nhỏ.
Hãy như đại dương không sóng.
Như một ngọn đèn tự chiếu sáng,
Và như một xác chết không đời sống.
Hãy bỏ những đặt tên, cường điệu ra khỏi tâm vốn là thanh tịnh.

Ông có biết làm thế nào để kinh nghiệm ư ?
Nếu không biết, tôi sẽ nói cho ông :
Như sương tan mất bởi sức mạnh của mặt trời
Và bị xua tan không bằng cách nào khác,
Định kiến, ý niệm được tan sạch bởi sức mạnh của chứng ngộ.
Không bằng cách nào khác để trừ sạch ý niệm.
Hãy kinh nghiệm chúng như là giấc mơ không căn cứ.
Hãy kinh nghiệm chúng như là bọt nước phù du.

Hãy kinh nghiệm chúng như là cầu vồng không chất thể.
Hãy kinh nghiệm chúng như là hư không không thể phân chia.

Ông có biết làm thế nào để bổ sung kinh nghiệm ư ?
Nếu không biết, tôi sẽ nói cho ông :
Ngay cả một cơn gió mạnh bản chất cũng trống rỗng.
Ngay cả một làn sóng lớn cũng chính là đại dương
Ngay cả những đám mây dày phương nam cũng không có chất thể như bầu trời.

Ngay cả tâm ồn náo cũng vốn tự nhiên là vô sanh
Để làm tâm vận hành
Hãy dùng những giáo huấn để thức cỡi trên khí.
Khi thất niệm vì kẻ trộm là ý niệm,
Hãy dùng những giáo huấn để nhận ra kẻ trộm.
Khi tâm bị phân tán theo các đối tượng
Hãy xử dụng giáo huấn về cách bay của con quạ từ một một chiếc tàu.(14)

Ông có biết làm sao để thực hành ư ?
Nếu không biết, tôi sẽ nói cho ông :
Hãy thực hành như một con sư tử lớn đứng.
Hãy thực hành như một hoa sen mọc lên trong bùn.
Hãy thực hành như một con voi mê đắm.
Hãy thực hành như một hòn pha lê trong suốt.

Ông có biết làm thế nào để hiển lộ những kết quả ư ?
Nếu không biết, tôi sẽ nói cho ông :
Pháp thân được hiển lộ trong vô niệm.
Báo thân được hiển lộ trong lạc.
Hóa thân được hiển lộ trong sự sáng tỏ.

Tự tánh thân được hiển lộ trong tánh Không bổn nhiên.
Với những ai giỏi về ngôn ngữ thì có ba thân,
Nhưng trong Pháp thân thì không có sự chia biệt nào.

Cái thấy, trưởng dưỡng, kinh nghiệm,
Bổ sung, thực hành và những kết quả –
Sáu cái này bao gồm sự chứng nghiệm trong thiền.
Ông có nắm nghĩa lý của tôi không, hỡi con người xứ UŠ ?
Ông có hiểu tôi không, hỡi nhà khổ hạnh ?

Thiền giả một lần nữa tràn đầy cảm kích, và sau khi xin ban nhập môn và sự chỉ dạy sâu nhiệm bèn bắt đầu việc thực hành. Người ta nói ông trở thành một người thiền định lão luyện nhờ sự chứng ngộ tối hậu mọc sáng trong tâm thức ông.

Một bài ca về thiền khác của Milarepa, lần này là cho đệ tử thân cận là Rechungpa. Đây là một kiểu mẫu tiêu biểu về cách thức Mila tạo thành những chỉ dạy về thiền cho các đệ tử riêng. Sự bộc phát tự nhiên này chỉ để đáp ứng yêu cầu của Rechungpa đang chấp tay, phản ánh những hoàn cảnh thư thái trong sự độc nhất và quy mô của thể loại này. Dùng kiểu cách ẩn dụ như ngài thích, Mila lấy những vật trực tiếp chung quanh và dệt chúng vào một tấm vải biểu tượng phong phú để xiển dương những điểm chính yếu của giáo lý ngài.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
25/05/2013(Xem: 13155)
Lược Sử Phật Giáo Trung Quốc (Từ thế kỷ thứ I sau CN đến thế kỷ thứ X) - Tác giả Viên Trí
23/04/2013(Xem: 10770)
Quyển Thiền Lâm Tế Nhật Bản quý vị đang cầm trên tay bằng tiếng Việt đây, chúng tôi dịch trực tiếp từ tiếng Nhật sang tiếng Việt, tại Tu Viện Đa Bảo, Úc Đại Lợi, nhân kỳ nhập thất lần thứ ba tại đây. Công việc được bắt đầu từ ngày 24 tháng 10 năm 2005, đến ngày 18 tháng 11 năm 2005 bản dịch hoàn tất.
10/04/2013(Xem: 5430)
Hiện nay có hai bảng Niên biểu Phật giáo khá phổ biến và cả hai đều căn cứ vào một mốc thời gian duy nhất tương đối chính xác là năm đăng quang của hoàng đế A-dục, tức là năm - 268 hay - 267 trước Tây lịch. Các học giả Tây phương đặt tên cho hai bảng Niên biểu này là : "Bảng Niên biểu dài" và "Bảng Niên biểu ngắn". Theo bảng "Niên biểu dài" thì Đức Phật tịch diệt 218 năm trước khi hoàng đế A-dục chính thức lên ngôi, vì vậy nếu suy ngược lên bằng cách dựa vào mốc thời gian làm chuẩn là năm - 268, thì Đức Phật nhập vào Đại bát Niết bàn vào năm - 486
10/04/2013(Xem: 6520)
Số lượng Phật tử trên thế giới đã từng bị lượng định quá thấp. Những thống kê mà ta đọc được trong các Từ điển Bách khoa hoặc trong các Bảng Niên giám thường ghi con số nầy vào khoảng 500 triệu người. Con số nầy đã không kể đến hơn một tỉ người Trung Quốc hiện đang sống tại nước Cọng hòa Nhân dân Trung Quốc.
10/04/2013(Xem: 19489)
Hôm nay là ngày 20 tháng 6 năm 2001 nhằm ngày 29 tháng 4 nhuần năm Tân Tỵ, tôi chắp bút bắt đầu viết quyển sách thứ 32 nầy trong mùa An Cư Kiết Hạ của năm nay. Hôm nay cũng là ngày rất đẹp trời. Vì mấy tháng nay, mặc dầu đã vào hạ; nhưng bầu trời vẫn vần vũ bóng mây, như dọa nạt thế nhân là ánh sáng của thái dương sẽ không bao giờ chan hòa đến quả địa cầu nầy nữa.
10/04/2013(Xem: 14348)
Sau 30 năm sinh hoạt Phật sự tại Đức, tôi ngồi tính sổ lại thời gian, nhân duyên, cơ hội cũng như những phạm trù khác để gởi đến quý Phật Tử xa gần, với những người lâu nay hằng hộ trì cho Phật pháp tại Đức nói riêng và các nơi khác tại Âu Châu cũng như trên thế giới nói chung với tinh thần của người con Phật và với tư cách là một Trưởng Tử của Như Lai.
10/04/2013(Xem: 6849)
Khi Koryeo đang chịu cảnh cực khổ vì quân Mông Cổ xâm lược Koryeo, người Koryeo đã khắc lẽ phải trên gỗ. Cứ khắc một chữ trên gỗ là người Koryeo đã cúi lạy ba lần. Hơn 50 triệu chữ và kiểu khắc chữ của toàn bộ các chữ đều giống nhau y như từ một người viết. Cũng không có chữ nào bị lỗi và bị bỏ sót. Đây chính là ‘Cao Ly Đại Tàng Kinh’. Nó là Đại Tàng Kinh cổ nhất hiện đang tồn tại trên thế giới.
10/04/2013(Xem: 4864)
Chuyến hoằng pháp của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 tại Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan vào tháng 6 năm 2007 là một duyên lành, không chừng là lần cuối của Ngài, do tuổi hạc đã cao và một lịch trình sinh hoạt hằng năm ở khắp nơi trên thế giới đầy kín.
10/04/2013(Xem: 5380)
Thật là một đại hoan hỉ khi chúng tôi xin thưa với quý vị Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 sẽ trở lại Úc vào ngày 11 /06/2008 để thuyết pháp trong năm ngày tại Sydney
10/04/2013(Xem: 10097)
Cali Today News - Đức Đạt Lai Lạt Ma, Nhà lãnh đạo tôn giáo và cũng là nhà lãnh đạo lưu vong Tây Tạng nói: "Dân tộc Việt Nam rất anh hùng rất đáng kính trọng. Sau một thời gian khó khăn, khi mức sống của nhiều người được cải thiện thì sức mạnh tinh thần và tâm linh của người Việt sẽ giúp họ tìm ra con đường tốt đẹp hơn cho Việt Nam" . Ngài đã nói như vậy khi "phái đoàn" của Nhật báo Việt Báo đến viếng thăm Ngài vào ngày 14 Tháng 9, 2006 tại Pasadena, California.