4. Mila gặp gỡ một thiền giả

09/01/201106:18(Xem: 6562)
4. Mila gặp gỡ một thiền giả

4

Mila gặp gỡ một thiền giả


Một ngày ấm áp khi Jetsušn Repa vĩ đại đang tu hành ở Núi Khối Đỏ trên đồng bằng Gungthang, một thiền giả đi đến. Mila hỏi ông : “Thầy đến từ đâu ?”

Ông trả lời : “Tôi đến từ vùng UŠ sau khi nghe danh tiếng của một lama Jetsušn tên là Milarepa. Thánh giả Jetsušn ấy sống ở đâu ?”

Để trả lời Mila hát cho ông bài ca này :

Con đảnh lễ dưới chân Marpa, vị siêu việt của loài người,
Không cách ly mảy tóc với Vajradhara vĩ đại.
Xin hãy hướng dẫn con, tâm ngài không mảy may chệch hướng,
Khỏi trạng thái của thực tại bất biến.

Ông, nhà khổ hạnh xứ UŠ, đến từ vùng đất thấp,
Tìm kiếm thiền giả Mila để xin những lời chỉ dạy.
Vậy thì, hãy thấu hiểu sự giải thích này !

Trong ba tháng xuân khi chúa của hơi ấm xuất hiện
Và những nguyên tố của nóng và lạnh cạnh tranh nhau,
Tiếng “ù ù” vang dội trong bầu trời
Được gọi là Con Rồng Xanh.

Dầu cho tên gọi và danh tiếng là vĩ đại,
Nhưng khi gặp hình thể thực của nó
Nó có một miệng rộng, cổ nhỏ, đuôi dài.

Dầu cho tên gọi và hình thể không khớp nhau,
Tiếng của nó được xem là điềm rất tốt lành.
Thế nên nó được gọi là con rồng vĩ đại của bầu trời,
Kẻ chia mùa hạ và mùa đông,
Viên ngọc trai của mùa mưa đúng thời.
Hãy hiểu đây là một điều kinh ngạc lớn !

Dưới những dòng nước của đại dương ngoài kia
Trên cái bục bằng vàng của đại dương,
Vị chủ tể của biển cả ngồi đó
Được gọi là Con Rùa Vàng Vĩ Đại.

Dầu cho tên gọi và danh tiếng là lớn lao,
Nhưng khi gặp hình thể thực của nó
Nó giống như một cái bình đất sét lật úp
Với miệng thì rộng còn chân ngắn ngủn.

Dầu cho tên gọi và hình thể không khớp nhau,
Nó được gọi là Rùa Vàng Vĩ Đại.
Nó là sự trang sức vĩ đại cho những đại dương,
Là thuốc để thuần hóa những hồn linh thiên nhiên,
Vũ khí bảo vệ những vùng thảm họa,
Và là kẻ chinh phục những con rắn độc.
Hãy hiểu đây là một điều kinh ngạc lớn !

Ở Tây Tạng này, những con quỷ mặt đỏ,
Yaksha (dạ xoa), và vô số hồn ma
Luôn luôn tìm cơ hội làm hại.
Còn chính tôi, người nổi tiếng như là Milarepa ;
Và dầu cho tên gọi và danh tiếng là lớn lao,
Nhưng khi gặp hình thể thực của tôi,
Tôi trần truồng, thân xanh như lá.

Dầu cho tên gọi và hình thể không khớp nhau,
Tôi có khả năng thực hành pháp khổ hạnh ;
Như thế tôi là vương miện của những người cầu Pháp,
Một thiền giả giữ gìn những giáo lý
Với sức mạnh chiến thắng những quỷ ma.
Hãy hiểu đây là một kinh ngạc lớn !

Ba cái này – bài ca, ví dụ và ý nghĩa,
Là cách giải thích của Mila
Nhưng thật ra Milarepa này
Chỉ là tên gọi, biểu tượng và chỉ định –
Trống rỗng như vỏ trấu, không có chất thể,
Vô tự tánh – như thế tôi không hề chỉ dạy.

Đây là quà tặng cho ông, hỡi thiền giả.
Bạn có nắm được ý nghĩa không, hỡi nhà khổ hạnh ?

Tràn đầy thán phục, thiền giả lễ lạy, đi nhiễu vòng quanh Mila và rồi quỳ gối chắp tay : “Lúc ban đầu tôi đã không biết chính là ngài. Tha thứ cho tôi. Tôi kinh ngạc khi thấy ngài có thể ở trong một chỗ ẩn cư hoang vắng mà không sợ hãi, lo âu.”

Jetsušn trả lời : “Nếu một thiền giả sợ phải ở nơi ẩn cư núi non, người ấy không nếm được thậm chí mùi hương của thiền định. Ông phải nhận biết mục đích, nó là trạng thái bổn nhiên, qua học tập và tư duy. Rồi sau khi nhận những giáo huấn sâu xa từ một vị lama chân chính và cắt đứt những tạo tác tâm thức, thấu rõ mục tiêu của thiền định nhất tâm. Một người như vậy mới được gọi là “thiền giả”. Những người lang thang khắp miền mà không có bằng chứng của kinh nghiệm và chứng ngộ, khất thực thức ăn và làm điều gì họ thích là những người bị tà ma nhiếp phục. Bởi thế, hãy nghe và suy xét kỹ bài ca này của tôi.”

Pháp vương của lòng tốt không lay chuyển,
Dịch giả mà tên tuổi hiếm được nghe đến –
Hỡi dịch giả vĩ đại Marpa
Con cầu nguyện – xin ban cho con ân phước !

Khi Đại Ấn vĩ đại đã biểu lộ,
Một thiền giả không sợ ngay cả tiêu tan cái thân như huyễn này.
Vừa lúc thấu rõ rằng những kinh nghiệm bên trong và bên ngoài đều như huyễn,
Một thiền giả không sợ ngay cả những đạo quân của bốn loại Ma.

Khi đã chấm dứt sự bám luyến vào cuộc đời,
Một thiền giả không sợ ngay cả sự hoại diệt toàn bộ của ba cõi.
Khi có thể điều phục những năng lực trong thân
Một thiền giả không sợ phải lang thang trong sương mù của ba cõi.

Thiền giả tràn đầy xúc cảm và thốt lên : “Lama Jetsušn quý báu, ngài có danh tiếng lớn, và điều đó thật như vậy. Kỳ diệu thay ! Kỳ diệu thay ! Bây giờ xin ngài giải thích như thế nào thế giới hình tướng này xuất hiện.”

Mila bèn hát bài ca này :

Con đảnh lễ dưới chân của lama chân thật
Người đã chỉ cho con rằng mọi tướng đều như huyễn.

Ông có biết những hình tướng này là gì ư ?
Nếu không biết, tôi sẽ nói cho ông :
Những hình tướng này xuất hiện khắp nơi ;
Với người không chứng ngộ thì chúng là sanh tử,
Nhưng với người chứng ngộ, chúng chiếu diệu như là Pháp thân.
Khi những hình tướng chiếu diệu như là Pháp thân
Chớ tìm kiếm một tri kiến nào khác từ những nguồn nào khác.

Ông có biết làm sao để trưởng dưỡng cái tâm ư ?
Nếu không biết, tôi sẽ nói cho ông :
Chớ tìm cách chỉnh trị, thao tác gì với tâm ;
Chớ cố gắng khiên cưỡng kiểm soát tâm.
Hãy an nhiên buông xả như một trẻ nhỏ.
Hãy như đại dương không sóng.
Như một ngọn đèn tự chiếu sáng,
Và như một xác chết không đời sống.
Hãy bỏ những đặt tên, cường điệu ra khỏi tâm vốn là thanh tịnh.

Ông có biết làm thế nào để kinh nghiệm ư ?
Nếu không biết, tôi sẽ nói cho ông :
Như sương tan mất bởi sức mạnh của mặt trời
Và bị xua tan không bằng cách nào khác,
Định kiến, ý niệm được tan sạch bởi sức mạnh của chứng ngộ.
Không bằng cách nào khác để trừ sạch ý niệm.
Hãy kinh nghiệm chúng như là giấc mơ không căn cứ.
Hãy kinh nghiệm chúng như là bọt nước phù du.

Hãy kinh nghiệm chúng như là cầu vồng không chất thể.
Hãy kinh nghiệm chúng như là hư không không thể phân chia.

Ông có biết làm thế nào để bổ sung kinh nghiệm ư ?
Nếu không biết, tôi sẽ nói cho ông :
Ngay cả một cơn gió mạnh bản chất cũng trống rỗng.
Ngay cả một làn sóng lớn cũng chính là đại dương
Ngay cả những đám mây dày phương nam cũng không có chất thể như bầu trời.

Ngay cả tâm ồn náo cũng vốn tự nhiên là vô sanh
Để làm tâm vận hành
Hãy dùng những giáo huấn để thức cỡi trên khí.
Khi thất niệm vì kẻ trộm là ý niệm,
Hãy dùng những giáo huấn để nhận ra kẻ trộm.
Khi tâm bị phân tán theo các đối tượng
Hãy xử dụng giáo huấn về cách bay của con quạ từ một một chiếc tàu.(14)

Ông có biết làm sao để thực hành ư ?
Nếu không biết, tôi sẽ nói cho ông :
Hãy thực hành như một con sư tử lớn đứng.
Hãy thực hành như một hoa sen mọc lên trong bùn.
Hãy thực hành như một con voi mê đắm.
Hãy thực hành như một hòn pha lê trong suốt.

Ông có biết làm thế nào để hiển lộ những kết quả ư ?
Nếu không biết, tôi sẽ nói cho ông :
Pháp thân được hiển lộ trong vô niệm.
Báo thân được hiển lộ trong lạc.
Hóa thân được hiển lộ trong sự sáng tỏ.

Tự tánh thân được hiển lộ trong tánh Không bổn nhiên.
Với những ai giỏi về ngôn ngữ thì có ba thân,
Nhưng trong Pháp thân thì không có sự chia biệt nào.

Cái thấy, trưởng dưỡng, kinh nghiệm,
Bổ sung, thực hành và những kết quả –
Sáu cái này bao gồm sự chứng nghiệm trong thiền.
Ông có nắm nghĩa lý của tôi không, hỡi con người xứ UŠ ?
Ông có hiểu tôi không, hỡi nhà khổ hạnh ?

Thiền giả một lần nữa tràn đầy cảm kích, và sau khi xin ban nhập môn và sự chỉ dạy sâu nhiệm bèn bắt đầu việc thực hành. Người ta nói ông trở thành một người thiền định lão luyện nhờ sự chứng ngộ tối hậu mọc sáng trong tâm thức ông.

Một bài ca về thiền khác của Milarepa, lần này là cho đệ tử thân cận là Rechungpa. Đây là một kiểu mẫu tiêu biểu về cách thức Mila tạo thành những chỉ dạy về thiền cho các đệ tử riêng. Sự bộc phát tự nhiên này chỉ để đáp ứng yêu cầu của Rechungpa đang chấp tay, phản ánh những hoàn cảnh thư thái trong sự độc nhất và quy mô của thể loại này. Dùng kiểu cách ẩn dụ như ngài thích, Mila lấy những vật trực tiếp chung quanh và dệt chúng vào một tấm vải biểu tượng phong phú để xiển dương những điểm chính yếu của giáo lý ngài.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/03/2015(Xem: 11550)
Với mục tiêu giúp mọi người hướng đến đời sống tâm linh, tổ chức Dhammakaya đã thiết lập nhiều hoạt động nhằm tác động đến đời sống đạo đức tâm linh xã hội hiện đại, nâng cao phẩm giá của con người, hướng đến một nền hòa bình, hòa hợp cho thế giới mà mọi người chúng ta đang tìm cầu. Thời gian gần đây, hoạt động của Dhammakaya đã thu hút người mộ đạo từ Thái lan đến khắp nơi trên thế giới.Trung tâm luôn duy trì những hoạt động này, vì nó đã đem lại thiết thực cho con người tăng trưởng nhân tâm và phát triển xã hội.
10/02/2015(Xem: 7501)
Hội Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới đã được thành lập 65 năm, Đại hội lần thứ 17 được tổ chức từ 16 đến 18 tháng 10 năm 2014 tại thành phố Bảo Kê, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Nói đến lịch sử thành lập Hội, không thể không nhắc đến người đề xướng ý tưởng thành lập đầu tiên là Ngài Thái Hư Đại Sư và người đệ tử lớn của Ngài là Pháp Sư Pháp Phảng. Bài viết này trình bày công đức của Pháp Sư Pháp Phản trong việc thành lập Hội Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới.
07/11/2014(Xem: 40243)
Nói "Chùa Khánh Anh sau 30 năm" có nghĩa là đã bắt đầu bước sang năm thứ 30+1... Thật vậy, chùa Khánh Anh bắt đầu sinh hoạt từ Lễ Phật Đản 1974, tức 1 năm trước biến cố lịch sử 30/4/1975. Tại sao lại không phải là sau ngày 30/4/75 như nhiều nơi khác, và nhiều chùa khác ở hải ngoại? Thưa quý vị và bà con cô bác, đó mới là có chuyện để kể lại. Và cái đoạn này có nhiều chuyện để kể lắm. Nghĩa là nguyên nhân do đâu, và từ bao giờ đưa đến việc thành lập chùa Khánh Anh trước năm 75 và sinh hoạt cho đến ngày hôm nay?
22/10/2014(Xem: 9138)
ÚC ĐẠI LỢI: Trung tâm Phật học Nam Thiên được xây lên từ khu đất hoang Wollongong, New South Wales – Tại một khu đất hoang được mua từ hội đồng địa phương với giá một đô la, một tòa nhà lấy cảm hứng từ hoa sen đã được xây dựng nên và một ngày nào đó nó có thể là hiện thân của trường đại học Phật giáo đầu tiên của Úc Đại Lợi. “Nó rất có tính biểu tượng – tòa nhà hoa sen vươn khỏi khu đất hoang này”, nhà toán học John Loxton, viện trưởng sáng lập viện Nam Thiên nói. Tọa lạc ở nam Wollongong, tòa nhà trong khuôn viên khu đại học vươn lên không gian với những phần bê tông uốn cong với kiểu dáng đẹp. Bên ngoài, các tấm chắn và ngói màu đất sét của tòa nhà hài hòa với ngôi chùa Nam Thiên có mái đất nung truyền thống nằm liền kề. Giáo sư Loxton nói rằng tất cả đã bắt đầu với các dịch vụ sau đại học về nghiên cứu Phật giáo ứng dụng, và học viện có kế hoạch xây dựng thêm nhiều khóa học hơn để đáp ứng về kinh doanh và cuộc sống chuyên nghiệp. (The Australian – October 15, 2014)
19/10/2014(Xem: 49217)
Cuốn PHẬT GIÁO KHẮP THẾ GIỚI, do Tỷ khưu Nguyên Tạng viết, là một đề tài hấp dẫn mà đáng lẽ phải có từ lâu. Ðối với người con Phật ở Việt Nam / châu Á thì sự kiện nổi bật nhất ở nửa cuối thế kỷ XX không hẳn là cuộc cách mạng Tin học, mà là sự phát triển ngoạn mục của Phật giáo tại Tây AÂu và Bắc Mỹ. Thực ra, cuộc cách mạng giác ngộ nhân chủ khởi nguyên từ hậu bán thế kỷ XVIII là do sự thức tỉnh của giới trí thức phương Tây sớm biết tìm đến với Ðạo Phật, và đã lái lịch sử thế giới đi vào con đường giải thoát thân phận con người khỏi khổ đau, mê tối, và giải phóng các dân tộc nhược tiểu thoát cảnh thù địch, lạc hậu – Phải chờ hơn hai thế kỷ.
16/10/2014(Xem: 12530)
Chaman Lan và một số học giả Hoa Kỳ cho rằng không phải ông Columbus đầu tiên tìm ra Châu Mỹ mà chính những người di dân Hindu từ Ấn Độ. Lý luận mới lạ này được dựa vào một số truyền thống thịnh hành ở Trung Mỹ và Mexico. Nhưng giả thiết này thiếu sự ủng hộ của bằng chứng văn học. Tuy nhiên chúng ta cũng có ít nhất là một điểm được ghi lại trong lịch sử Trung Hoa nói đến một đoàn tu sĩ Phật Giáo đến Châu Mỹ vào thế kỷ thứ 5 sau Tây lịch và đã đưa Phật Giáo vào dạy cho những người dân ở đó.
02/09/2014(Xem: 12988)
Các tổ chức cá nhân trên thế giới đã tập hợp để bày tỏ lo ngại ngôi Borobudur (Bà La Tự viện quần-婆羅浮屠寺院群) Đại Già lam lớn nhất thế giới, bởi mối đe dọa gần đây của nhà nước Hồi giáo (IS). Ngôi Borobudur (Bà La Tự viện quần-婆羅浮屠寺院群) Đại Già lam lớn nhất thế giới, là một ngôi Chùa Tháp Phật giáo quy mô, miền Trung đảo Java, Indonesia.
17/08/2014(Xem: 38166)
Đại Sư tên là Huệ Năng, cha họ Lư, tên húy là Hành Thao. Người mẹ họ Lý, sinh ra ngài nhằm giờ tý, ngày mùng tám tháng hai, năm Mậu Tuất, niên hiệu Trinh Quán thứ 12. Khi ấy, hào quang từ nhà ngài chiếu sáng lên không trung, mùi hương lạ tỏa lan khắp nhà. Đến tảng sáng, có hai vị tăng lạ mặt đến thăm, bảo cha ngài rằng: “Khuya nay ông vừa sinh quý tử, chúng tôi đến đây là để đặt tên cho cháu bé. Ông nên đặt trước là chữ Huệ, sau là chữ Năng.”
17/08/2014(Xem: 10612)
Vào thời đại Silla (Tân La) ở Hàn Quốc, khoảng hơn Nghìn năm trước, có một cậu bé tên là Kim Đại Thành (Kim Dae-seong 김대성-金大城) sống ở làng Moryang. Vì hoàn cảnh gia đình gặp phải khó khăn về kinh tế, cho nên cậu phải rày đây mai đó làm thuê mướn để đổi lấy bát cơm manh áo và phụ giúp gia đình. Một hôm, sau khi dự buổi thính pháp đàm của một vị Pháp sư giảng giáo lý Phật đà, cậu liền về nhà thuyết phục mẹ mình cúng dường mảnh ruộng vườn, tài sản duy nhất của gia đình để tích phúc đức.
23/07/2014(Xem: 8420)
Bằng việc cho phép phụ nữ gia nhập Tăng đoàn, Đức Phật 2.500 năm trước đã đặt phụ nữ bình đẳng với nam giới ở Ấn Độ. Nhưng ngày nay ở hầu hết các quốc gia Phật giáo châu Á nữ tu đang chiến đấu một trận chiến khó khăn để được công nhận là người truyền bá Giáo pháp. Một người phụ nữ Nepal có thể đã vô tình thay đổi nhận thức này bằng cách hát về Giáo pháp.