Uống Dòng Suối Núi

09/01/201106:03(Xem: 11051)
Uống Dòng Suối Núi

UỐNG DÒNG SUỐI NÚI

Những Bài Ca của vị Thánh được Mến Yêu của Tây Tạng, Milarepa
Nguyên tác: Drinking the Mountain Stream, Song of Tibet’s Beloved Saint, Milarepa
Translated by Lama Kunga Rinpoche & Brian Cutillo, Wisdom Publications, 1995
Việt dịch: Tha Nhân - Nhà xuất bản Thiện Tri Thức, 2002
Tất cả nước uống mà bạn đã dùng
Trải qua thời gian vô thủy cho đến hôm nay
Đã không thỏa mãn cơn khát hay làm bạn hài lòng.
Bởi thế hãy uống dòng suối này
Của tâm giác ngộ, hỡi những ai có phước.
– Milarepa


uongdongsuoinui_thientrithuc


MỤC LỤC
Lời nói đầu
Dẫn nhập
Thế Giới của Milarepa
Hệ thống Phật giáo về Giải thoát
Dòng phái Kagyu của sự thực hành Phật giáo
Tính Cách Con Người Milarepa
Những Bài Ca
Về Những Bài Ca Uống Dòng Suối Núi
1. Milarepa kể câu chuyện của mình
2. Bài ca cho các thí chủ nghèo
3. Bài ca trong mưa của Mila
4. Mila gặp gỡ một thiền giả
5. Những biểu tượng cho kinh nghiệm Thiền
6. Bài ca về những người hướng dẫn con đường
7. Bài ca Chứng Ngộ trong Hang Tịnh Quang
8. Sự bối rối của Rechungpa
9. Sự gặp gỡ của Mila với Dampa Sangye
10. Bài ca Cây Gậy Sừng
11. Trừ sạch ham muốn
12. Mila thu nhận một nữ đệ tử trẻ tại buổi tiệc làng
13. Mila giải thoát cho một bà lão
14. Từ “Sáu Bài Ca Kim Cương”
15. Mila Thăm Viếng Một Trung Tâm Tôn Giáo
16. Đối mặt với một thầy tu đạo Bošn
17. Cuộc du hành của Mila do một Giấc Mộng Gợi Ý
18. Milarepa có chết không ?
Bài Kệ Kết Thúc
Chú thích
Thuật ngữ

uongdongsuoinui-01


Milarepa và những guru trong dòng của ngài :
Marpa, Tilopa và Naropa

Lời Nói Đầu
của LAMA KUNGA RINPOCHE
trước kia là Thartse Shabthung của Tu Viện Ngor, Tây Tạng

Milarepa là một trong những đạo sư tâm linh nổi tiếng nhất của mọi thời. Ngài không những là một nhà lãnh đạo kiệt xuất của dòng phái Kagyu, mà cũng là một đạo sư rất quan trọng đối với mọi trường phái của Phật giáo Tây Tạng. Ngài là một ngôi sao của Phật giáo sơ thời Tây Tạng, và là một ngôi sao sáng chói của Thiền, soi sáng con đường Phật pháp ngày nay. Chắc chắn ngài không phải là một người hoang tưởng bỏ xã hội và ẩn nơi những chỗ hiểm hóc động sâu. Thật ra, ngài là một người phiêu lưu đã đạt đến chót đỉnh của ngọn núi cao với một cái nhìn toàn cuộc về sanh tử. Ngài là một chiến sĩ đích thật đã thành công trong việc chiến thắng kẻ thù thật sự, như thế trở thành một người cứu độ cho chúng sanh.

Ngài là người có ba năng lực. Thân thể ngài tương đương với thân của Vajrapani (Bồ tát Kim Cương Thủ), lời nói của ngài là lời của Manjusri (Bồ tát Văn Thù Sư Lợi), và cái nghe của ngài là cái nghe của Avalokitesvara (Bồ tát Quán Thế Âm). Milarepa là một con người khỏe mạnh, đầy sức sống với một sự kiên trì vô địch trong sự tìm kiếm giải thoát. Lời nói ngài đẹp đẽ và có thể diễn đạt bất cứ sự gì thành bài hát tự phát, với ngôn ngữ đó ngài đã phát biểu tinh túy của Phật pháp theo những cách có thể hiểu cho tất cả mọi loại người nghe. Cái nghe của ngài thông thấu như của Quán Thế Âm, vị Bồ tát đại bi mà người Tây Tạng gọi là Chenrezi, người nghe thấu tiếng nói của tất cả chúng sanh.

Người bình dân Tây Tạng có câu nói, “Trong rừng khỉ và vượn là nhanh nhẹn nhất. Trong trang trại bò và cừu thì đần độn nhất. Trong núi cao Milarepa là người thiện xảo nhất trong thiền định.” Như tôi đã nói, Milarepa là một thiền giả rất nổi tiếng ở Tây Tạng, và có lẽ là người được biết đến nhiều nhất ở phần còn lại của thế giới. Khi bổn sư của ngài là Marpa Lotsawa đến Ấn Độ để học với Naropa, Naropa đã nói với Marpa : “Con cần biết rằng trong tương lai con sẽ có một đệ tử còn vượt hơn cả thầy của con. Con thì lớn hơn cha, và cháu sẽ còn lớn hơn cả hai chúng ta.” Rồi ngài chắp hai tay trước ngực, đảnh lễ về hướng Tây Tạng, và chúc tụng vị thiền giả tương lai với bài kệ :

Xin đảnh lễ vị Phật kia
Có tên “Mila sung sướng lắng nghe”,
Sáng như mặt trời trên các đỉnh tuyết
Trong sự tối tăm của Xứ Tuyết.


Milarepa đã hát nhiều bài ca trong suốt cuộc đời ngài. Người ta nói rằng phần nhiều chúng đã bị những dakini lấy mất. Hình như Milarepa cũng là một vị thầy được cả loài phi nhân quý chuộng ! Tuyển tập những bài ca chúng tôi dịch ra trong cuốn sách này chưa bao giờ được chuyển dịch thành ngôn ngữ Tây phương trước đây. Chúng tôi rất may mắn tình cờ gặp được cuốn sách hiếm quý này và đã có thể dịch nó với sự bảo trợ của Trung Tâm Lotsawa và Ewam Chošden.

Nếu độc giả chờ đợi một cái gì như một phần thưởng thần kỳ và tức thời từ cuốn sách này, tôi cho là khá khó khăn, nhưng hãy làm cái gì khác. Cuốn sách này không phải là một hợp tuyển những câu chuyện giải trí ngắn. Nó cần được đọc như một bản đồ chỉ đường khi du hành qua những con đường nội tâm không quen thuộc để tiến đến thung lũng trung tâm của tâm thức giác hoàn toàn, nơi nó bạn có thể cắm trại một cách an bình. Nó không giống như nhử dụ một đứa trẻ bằng những đồ chơi plastic ở ngoài tầm tay với. Đây là một sự việc thật, như một đứa trẻ được nuôi dưỡng bởi một bà mẹ tốt. Thế nên hãy đọc cuốn sách này cẩn thận với một sự chú tâm tỉnh táo của một người du hành. Tuy nhiên, mọi sự sẽ không hiểu ngay liền được. Khi du hành bằng bản đồ và đến một thành phố không quen biết, người ta phải dừng lại và lấy thêm thông tin chi tiết của địa phương nó không rõ ràng ở trên bản đồ. Tương tự, người đọc cuốn sách này nên tìm sự giúp đỡ để hiểu ý nghĩa của những bài ca này từ một vị thầy chuyên môn, thông thạo trong chủ đề đặc biệt này. Cuốn sách, người đọc, và vị thầy sẽ cùng nhau tạo ra một cái gì có giá trị, hữu dụng. Thật tốt khi đọc loại sách này, nhưng nghiên cứu nó thì tốt hơn. Và tốt hơn nữa là rút ra ý nghĩa của nó để đưa vào thực hành.

Tôi rất biết ơn người đồng dịch của tôi Brian Cutillo, sự hiểu biết của anh về Tây Tạng và những chủ đề Phật giáo và kinh nghiệm trong việc dịch những tác phẩm Phật giáo đã làm cho việc hợp tác này thành công. Tôi cũng biết ơn những người đã trợ giúp vào cuốn sách này, đặc biệt là Vivian Sinder và James Wallace trong sự hình thành và ấn hành cuốn sách Uống Dòng Suối Núi, Acarya Losang Jamspal đã làm sáng tỏ một số điểm khi tôi vắng mặt, và Nathan Swin đã cung cấp mộc bản Tây Tạng.

Tôi thành thật mong muốn mọi người đọc những bài ca của Milarepa này sẽ tìm thấy nguồn cảm hứng để thực hành và cuối cùng thực hiện được ý nghĩa chân thật của đời người. Như thế cuốn sách này được hồi hướng cho công trình của Ewam Chošden và cho mọi hành giả ở bất cứ nơi đâu.

Source: thuvienhoasen

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/04/2013(Xem: 10458)
Quyển Thiền Lâm Tế Nhật Bản quý vị đang cầm trên tay bằng tiếng Việt đây, chúng tôi dịch trực tiếp từ tiếng Nhật sang tiếng Việt, tại Tu Viện Đa Bảo, Úc Đại Lợi, nhân kỳ nhập thất lần thứ ba tại đây. Công việc được bắt đầu từ ngày 24 tháng 10 năm 2005, đến ngày 18 tháng 11 năm 2005 bản dịch hoàn tất.
10/04/2013(Xem: 5301)
Hiện nay có hai bảng Niên biểu Phật giáo khá phổ biến và cả hai đều căn cứ vào một mốc thời gian duy nhất tương đối chính xác là năm đăng quang của hoàng đế A-dục, tức là năm - 268 hay - 267 trước Tây lịch. Các học giả Tây phương đặt tên cho hai bảng Niên biểu này là : "Bảng Niên biểu dài" và "Bảng Niên biểu ngắn". Theo bảng "Niên biểu dài" thì Đức Phật tịch diệt 218 năm trước khi hoàng đế A-dục chính thức lên ngôi, vì vậy nếu suy ngược lên bằng cách dựa vào mốc thời gian làm chuẩn là năm - 268, thì Đức Phật nhập vào Đại bát Niết bàn vào năm - 486
10/04/2013(Xem: 6442)
Số lượng Phật tử trên thế giới đã từng bị lượng định quá thấp. Những thống kê mà ta đọc được trong các Từ điển Bách khoa hoặc trong các Bảng Niên giám thường ghi con số nầy vào khoảng 500 triệu người. Con số nầy đã không kể đến hơn một tỉ người Trung Quốc hiện đang sống tại nước Cọng hòa Nhân dân Trung Quốc.
10/04/2013(Xem: 18354)
Hôm nay là ngày 20 tháng 6 năm 2001 nhằm ngày 29 tháng 4 nhuần năm Tân Tỵ, tôi chắp bút bắt đầu viết quyển sách thứ 32 nầy trong mùa An Cư Kiết Hạ của năm nay. Hôm nay cũng là ngày rất đẹp trời. Vì mấy tháng nay, mặc dầu đã vào hạ; nhưng bầu trời vẫn vần vũ bóng mây, như dọa nạt thế nhân là ánh sáng của thái dương sẽ không bao giờ chan hòa đến quả địa cầu nầy nữa.
10/04/2013(Xem: 13939)
Sau 30 năm sinh hoạt Phật sự tại Đức, tôi ngồi tính sổ lại thời gian, nhân duyên, cơ hội cũng như những phạm trù khác để gởi đến quý Phật Tử xa gần, với những người lâu nay hằng hộ trì cho Phật pháp tại Đức nói riêng và các nơi khác tại Âu Châu cũng như trên thế giới nói chung với tinh thần của người con Phật và với tư cách là một Trưởng Tử của Như Lai.
10/04/2013(Xem: 6752)
Khi Koryeo đang chịu cảnh cực khổ vì quân Mông Cổ xâm lược Koryeo, người Koryeo đã khắc lẽ phải trên gỗ. Cứ khắc một chữ trên gỗ là người Koryeo đã cúi lạy ba lần. Hơn 50 triệu chữ và kiểu khắc chữ của toàn bộ các chữ đều giống nhau y như từ một người viết. Cũng không có chữ nào bị lỗi và bị bỏ sót. Đây chính là ‘Cao Ly Đại Tàng Kinh’. Nó là Đại Tàng Kinh cổ nhất hiện đang tồn tại trên thế giới.
10/04/2013(Xem: 4766)
Chuyến hoằng pháp của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 tại Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan vào tháng 6 năm 2007 là một duyên lành, không chừng là lần cuối của Ngài, do tuổi hạc đã cao và một lịch trình sinh hoạt hằng năm ở khắp nơi trên thế giới đầy kín.
10/04/2013(Xem: 5263)
Thật là một đại hoan hỉ khi chúng tôi xin thưa với quý vị Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 sẽ trở lại Úc vào ngày 11 /06/2008 để thuyết pháp trong năm ngày tại Sydney
10/04/2013(Xem: 9670)
Cali Today News - Đức Đạt Lai Lạt Ma, Nhà lãnh đạo tôn giáo và cũng là nhà lãnh đạo lưu vong Tây Tạng nói: "Dân tộc Việt Nam rất anh hùng rất đáng kính trọng. Sau một thời gian khó khăn, khi mức sống của nhiều người được cải thiện thì sức mạnh tinh thần và tâm linh của người Việt sẽ giúp họ tìm ra con đường tốt đẹp hơn cho Việt Nam" . Ngài đã nói như vậy khi "phái đoàn" của Nhật báo Việt Báo đến viếng thăm Ngài vào ngày 14 Tháng 9, 2006 tại Pasadena, California.
10/04/2013(Xem: 6918)
Mạc Tư Khoa, Nga – “Thi thể của Giáo trưởng Lạt ma Itigelov đã được khai quật vào ngày 10 tháng 9, năm 2002, trong khu nghĩa trang gần thành phố Ulan Ude (Liên Bang Nga). Lạt ma thị tịch và được an táng vào năm 1927, và việc khai quật này đã được thực hiện với sự hiện diện của thân nhân, viên chức, và chuyên gia.”