Tiểu sử Trưởng lão Hòa thượng Thích Từ Thông (1928-2025)

25/10/202508:44(Xem: 1576)
Tiểu sử Trưởng lão Hòa thượng Thích Từ Thông (1928-2025)


HT Thich Tu Thong-28

Tiểu sử
Trưởng lão Hòa thượng Thích Từ Thông (1928-2025)




Trưởng lão Hòa thượng Thích Từ Thông
- Thành viên Hội đồng Chứng minh GHPGVN;

- Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN TP.HCM;

- Hiệu trưởng Trường Cao - Trung cấp Phật học TP.HCM;

- Nguyên Ủy viên Hội đồng Trị sự GHPGVN;

- Nguyên Phó ban Trị sự kiêm Trưởng ban Giáo dục Tăng Ni TP.HCM;

- Viện chủ chùa Phù Châu, tỉnh Đồng Tháp; Liễu Liễu đường, tỉnh Lâm Đồng.


Thân thế

Trưởng lão Hòa thượng, họ Nguyễn, húy Văn Sáu, sinh ngày mùng 1-4-Mậu Thìn (1928) tại làng Đông Hòa Hiệp, huyện Cái Bè, tỉnh Định Tường (trước đây là thị trấn Cái Bè, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang; nay là xã Cái Bè, tỉnh Đồng Tháp); Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Giai, pháp danh Từ Hóa, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Thoại. Ngài xuất thân trong một gia đình Nho học, phúc hậu, nề nếp gia phong thuận hòa, tín mộ Phật pháp.




ht tu thong-2
Trưởng lão Hòa thượng Thích Từ Thông lúc là thanh niên Tăng



Thời kỳ xuất gia tu học

Với túc duyên sâu dày nhiều đời, thuở ấu thời ngài sớm có tâm lành hướng Phật; vốn sẵn tánh mẫn tiệp, thông minh, lại thường theo mẹ về chùa lễ Phật, bái sám hồng danh, dần dần hun đúc duyên lành xuất gia.

Năm 19 tuổi, Trưởng lão Hòa thượng được song thân cho phép xuất gia đầu Phật vào ngày rằm tháng Tư năm Đinh Hợi (1947) tại chùa Phù Châu, huyện Cái Bè, tỉnh Định Tường (nay là tỉnh Đồng Tháp), được Bổn sư là Hòa thượng Hồng Tường ban pháp danh Nhựt Thuần.

Sau khi được thế phát, với tâm chí cầu học, ngày 27-4-Mậu Tý (1948), ngài theo Hòa thượng Bổn sư lên Sài Gòn đến chùa Kỳ Lân (nay là chùa Long An, đường Nguyễn Văn Cừ, TP.HCM) do Hòa thượng Pháp Nhạc trụ trì. Tại đây, Hòa thượng Bửu Thiền, huynh đệ đồng môn với Hòa thượng Bổn sư, nhận thấy ngài có tư chất thông minh, nên đã ban cho pháp hiệu là Từ Thông.


Sáng ngày 28-4-1948, Hòa thượng Bửu Thiền cùng Hòa thượng Bổn sư dẫn ngài đến xin nhập học tại Phật học đường Sùng Đức, do Hòa thượng Huyền Dung làm Giám đốc kiêm Giáo thọ.

Năm 1949, Ban Giám đốc Liên Hải Phật học đường khai mở Đại Giới đàn truyền trao giới pháp cho Tăng sinh các Phật học đường Liên Hải, Mai Sơn, Sùng Đức, Ứng Quang. Được sự chấp thuận của Bổn sư và Ban Giám đốc, ngài thọ giới tại Đại Giới đàn này; Đại lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh - Giám đốc Phật học đường Liên Hải lúc bấy giờ làm Hòa thượng Đường đầu.

Năm 1950, sau 8 năm tầm học tại Huế và Hà Nội, Hòa thượng Thích Thiện Hòa trở về Nam hành đạo, chủ trương hợp nhất bốn Phật học đường Liên Hải, Mai Sơn, Sùng Đức, Ứng Quang thành Phật học đường Nam Việt – chùa Ấn Quang.

Sang năm 1951, tất cả học Tăng các lớp Sơ đẳng chính thức chuyển về Phật học đường Nam Việt. Trưởng lão Hòa thượng tiếp tục theo học, lần lượt hoàn tất chương trình Trung đẳng và Cao đẳng Phật học, mãn khóa vào năm 1958, dưới sự hướng dẫn của Hòa thượng Giám đốc Thích Thiện Hòa, Hòa thượng Đốc giáo Thích Thiện Hoa và Hòa thượng Giáo thọ Thích Trí Tịnh.


ht tu thong

Trưởng lão Hòa thượng Thích Từ Thông với các đồng đạo Thiền Định, Huyền Vi, Thanh Từ thời thanh niên Tăng




Quá trình hành đạo

Sau khi tốt nghiệp Cao đẳng Phật học, Trưởng lão Hòa thượng được Ban Giám đốc và Giáo hội Tăng-già Nam Việt cử vào Giảng sư đoàn cùng quý Hòa thượng Thanh Từ, Huyền Vi, Chánh Tiến… đi giảng dạy Phật pháp khắp các tỉnh miền Đông và miền Tây Nam Bộ.

Năm 1961, nhân lần đi hoằng pháp ở Trà Vinh, ngài nhận thấy cơ sở Phật học đường Lưỡng Xuyên cũ còn có thể sử dụng được, nên đã xin Ban Giám đốc và Giáo hội mở lớp Sơ đẳng Phật học. Trong hai năm, ngài đảm nhiệm Giám đốc, cùng hợp tác với Hòa thượng Liễu Minh điều hành. Lớp học hoạt động đến năm 1963, do Pháp nạn, sau mãn khóa thì cũng tạm dừng.

Sau Pháp nạn 1963, ngày 4-1-1964, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất thành lập, ngài về Huỳnh Mai tịnh thất (đường Vũ Tùng, Q.Bình Thạnh cũ) để chuyên tâm nghiên cứu, giảng dạy tiếp tục trong giai đoạn mới.

Trong thời gian này, Trưởng lão Hòa thượng đã tiếp tục đóng góp cho công tác giáo dục và hoằng pháp như: Giám viện Phật học viện Linh Sơn (Cầu Muối, Q.1, Sài Gòn); Giám học Phật học viện Huệ Quang (chùa Huỳnh Kim, Gò Vấp, Gia Định); Giám học Phật học viện Phổ Quang (Phú Nhuận, Gia Định)…


Đồng thời, ngài còn tham gia giảng dạy cho lớp Trung đẳng Phật học chuyên khoa tại Phật học viện Huệ Nghiêm, Giác Nguyên, Ni trường Từ Nghiêm, Ni trường Dược Sư… cho đến ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 30-4-1975.

Ngày 7-8-1975, Ban Liên lạc Phật giáo yêu nước TP.HCM thành lập do Hòa thượng Thích Minh Nguyệt làm Chủ tịch, ngài tham gia và đảm nhận chức vụ Trưởng ban Tuyên huấn, dùng giảng đường Vĩnh Nghiêm để thuyết giảng thường kỳ.

Khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành lập (1981) ngài được suy cử vào Hội đồng Trị sự, đảm nhận Ủy viên Ban Hoằng pháp Trung ương, đồng thời là Ủy viên Hoằng pháp Thành hội Phật giáo TP.HCM.

Năm 1989, được sự chấp thuận của UBND TP.HCM và Ban Tôn giáo, Thành hội Phật giáo TP.HCM thành lập và khai giảng Trường Cơ bản Phật học (nay là Trường Trung cấp Phật học TP.HCM), cơ sở đặt tại chùa Vĩnh Nghiêm, ngài được Ban Trị sự Thành hội Phật giáo TP.HCM bổ nhiệm làm Hiệu trưởng, và đảm nhiệm chức vụ này nhiều nhiệm kỳ, cho đến ngày viên tịch.

Trưởng lão Hòa thượng Thích Từ Thông được Ban Trị sự Thành hội Phật giáo bổ nhiệm Hiệu trưởng Trường Cơ bản Phật học TP.HCM (nay là Trường Trung cấp Phật học TP.HCM) từ lúc thành lập (1988) và đảm nhiệm chức vụ này cho đến ngày viên tịch

Trưởng lão Hòa thượng Thích Từ Thông được Ban Trị sự Thành hội Phật giáo bổ nhiệm Hiệu trưởng Trường Cơ bản Phật học TP.HCM (nay là Trường Trung cấp Phật học TP.HCM) từ lúc thành lập (1988) và đảm nhiệm chức vụ này cho đến ngày viên tịch

Năm 2002, Ban Đại diện Phật giáo huyện Thủ Đức và Ban Trụ trì chùa Thiên Minh - cơ sở II của trường, đồng ý cúng dường cho Thành hội phần đất phía sau chùa để xây dựng cơ sở độc lập cho Trường Trung cấp Phật học, Trưởng lão Hòa thượng đảm nhận việc kiến thiết. Sau thời gian thi công, đến năm 2007, công trình hoàn thành, Trưởng lão Hòa thượng chuyển toàn bộ Tăng Ni sinh từ chùa Vĩnh Nghiêm về chùa Thiên Minh để đào tạo.

Trong gần 40 năm giữ vai trò Hiệu trưởng, Hòa thượng đã đào tạo hàng ngàn Tăng Ni phụng sự cho GHPGVN các cấp.

Tại Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần III (1992), ngài được tấn phong hàng giáo phẩm Hòa thượng. Đến Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VIII (2017), ngài được Đại hội suy tôn Thành viên Hội đồng Chứng minh GHPGVN.

Qua một cuộc đời hành đạo, hơn 70 năm hoằng pháp, đào tạo Tăng Ni, Trưởng lão Hòa thượng dành nhiều thời gian biên soạn, phiên dịch, chú giải kinh, luận để làm tài liệu, góp vào kho tàng văn học Phật giáo Việt Nam với bút danh Như Huyễn Thiền sư.

Sách vở của Trưởng lão Hòa thượng biên soạn, dịch, sáng tác, một số tác phẩm đã xuất bản, có thể kể: 


- Phật học danh số

- Bát Thức quy Cũ

- Bát Đại Nhơn Giác
- Pháp Hoa Kinh thâm nghĩa đề cương (mời xem)
- Bát Nhã Ba La Mật Kinh Trực chỉ đề cương (mời xem)
- Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh trực chỉ đề cương (mời xem)
- Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh trực chỉ đề cương (mời xem)
- Thủ Lăng Nghiêm Kinh trực chỉ đề cương (mời xem)
- Như Lai Viên Giác Kinh trực chỉ đề cương (mời xem)
- Chứng Đạo Ca trực chỉ đề cương (mời xem)
- Duy Thức Học Yếu Luận trực chỉ đề cương (mời xem)
- Đại Bát Niết Bàn Kinh trực chỉ đề cương (mời xem)
- Thủ Lăng Nghiêm Kinh tuyển trạch tân tu (mời xem)

*Các tác phẩm do ngài sáng tác:

- Như Huyễn Thiền Sư Thi Tập
- Những Chiếc Lá Trong Tay – Nhận thức lẽ đúng sai trên đường tu phật
- Tập thơ Ngón tay chỉ trăng (11 tập, mời xem)
- Hồi Ký Nhớ Ơn Thầy
- Nhập Phật Tri Kiến.




Thời kỳ viên tịch

Huyễn thân tứ đại đến hồi suy yếu, định luật vô thường không hẹn cùng ai, dù tứ thể bất an nhưng ngài vẫn tự tại trong chánh niệm. Trưởng lão Hòa thượng thuận thế vô thường thâu thần viên tịch vào lúc 12 giờ 45 phút, ngày 17 tháng 10 năm 2025 (nhằm ngày 26 tháng 8 năm Ất Tỵ) tại Trường Trung cấp Phật học TP.HCM; trụ thế: 98 năm, hạ lạp: 76 năm.

Nam-mô Phù Châu đường thượng, Liễu Liễu đường viện chủ, Lâm Tế Gia Phổ tứ thập nhất thế, húy thượng Nhật hạ Thuần, tự Từ Thông, hiệu Như Huyễn Thiền sư, Nguyễn công Trưởng lão Hòa thượng Giác linh thùy từ chứng giám.



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/07/2024(Xem: 5036)
Giáo sư Cao Huy Thuần - tác giả nhiều sách như "Thấy Phật", "Nắng và hoa", "Khi tựa gối khi cúi đầu" - mất ở tuổi 87, tại Paris, Pháp. Ông Cao Huy Hóa, em trai Giáo sư Cao Huy Thuần, thông báo ông mất lúc 5h ngày 8/7 (giờ Hà Nội). Hòa thượng Thích Hải Ấn - Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế - cho biết chờ thông tin từ gia đình, sau đó sẽ tổ chức buổi tưởng niệm giáo sư. Ông từng thỉnh giảng một số chuyên đề tại học viện.
28/06/2024(Xem: 3749)
Cung trời cũ, Thầy ung dung dạo bước, Chốn Hồng Trần, xin tạm gác niềm thương. Như Huyền nhiệm, đến đi trong tự tại. Diệt tang bồng, soi ảnh độ Tây phương. Thầy lặng lẽ, như hành thâm đại nguyện. Pháp Đại Bi, mật trú dạ Huân tu. Trong thiền thất, Thầy an nhiên thiền tọa. Thở và cười, chốn Bát Nhã Chơn như.
24/06/2024(Xem: 3595)
Đúng vậy! Tôn Sư Trưởng lão Hòa Thượng thượng NHƯ hạ HUỆ, Nguyên Hội Chủ và Chứng Minh Đạo Sư GHPGVNTNHN UDL-TTL, Phương trượng Chùa Pháp Hoa SA. Với 70 năm tu tập, 60 phục vụ PGVNTN tại quê nhà và hải ngoại, đã giáo dục, đạo tạo nên nhiều Tăng Ni và Phật tử tài giỏi, biết hy sinh bản thân để cống hiến cho đạo Pháp và dân tộc cũng như hết lòng phụng sự chúng sanh. Nhờ tấm lòng từ bi, với đức tánh hài hòa, nhẫn nại, bao dung rồi thâm nhập Phật Pháp. Từ nền móng đó, Phật giáo đồ và Giáo hội ở Úc đã nhiều nhiệm kỳ cung thỉnh Ngài làm Hội Chủ, đã giáo dưỡng nên nhiều đệ tử biết rõ cuộc đời là vô thường, khổ, để không chạy theo sự sanh diệt của thế gian, lánh xa ngũ dục, tìm cách diệt khổ vươn lên và phụng sự đắc lực cho cuộc đời, tạo vô vàn Phước Đức.
22/06/2024(Xem: 3814)
Có người, khi thấy tôi thường nhắc nhở, ca ngợi Hoà Thượng Thích Như Điển, cho rằng, tôi…nịnh Hoà Thượng. Trời, nếu hiểu theo nghĩa “nịnh” thì mục đích để cầu danh hay lợi gì đó. Muốn có danh đâu phải dễ. Giữa hai hạt, kim cương và hòn sỏi đặt dưới bóng đèn sẽ soi rõ bản chất của nó, không thể nhờ chiếu sáng mà sỏi thành ra kim cương được. Con người cũng thế thôi, bản thân chẳng ra gì có đứng bên người tỏa hào quang thì vẫn thấy cái dở của người đó. Còn lợi thì càng buồn cười hơn. Người tu vốn vào cửa...không, Phật tử phải đắp cho...có. Ở đó mà cầu lợi.
01/06/2024(Xem: 6044)
Từ khi mở đất, khai hoang, lập ấp vùng đất mới, Doãn Quốc Công Nguyễn Hoàng (1558-1613) đã để ý đến việc lập chùa và lấy Phật giáo làm nơi nương tựa tinh thần cho việc lập quốc của dòng họ Nguyễn. Theo truyền thống đó, các chúa Nguyễn đều sùng thượng đạo Phật và mời các vị danh tăng Trung Quốc đến Đàng Trong hay vùng Nam Bộ ngày nay để hoằng hóa. Thế kỷ XVII ghi nhận có mặt của các Thiền sư Trung Hoa (Nguyễn Lang 2008):
31/05/2024(Xem: 5719)
Sa môn Endo Mitsunaga (Giáo thọ A-xà-lê Quang Vĩnh Viên Đạo, 光永圓道阿闍梨), sinh năm năm Ất Mão (1975) tại Kyoto. Năm Canh Ngọ (1990), thiếu niên tuổi 15, Ngài xuất gia thụ giới Sa di tại Myoo-do Hall ở Mudojidani, Mt. Hiei. Năm 1997 Ngài tốt nghiệp chuyên khoa Phật học tại Đại học Hanazono (花園大学).
28/05/2024(Xem: 7064)
Huế thường được mệnh danh là “Kinh đô Phật giáo” chẳng phải vì cảm hứng nghệ thuật hay cường điệu vẽ vời mà chính vì Huế có tới 332 ngôi chùa và niệm phật đường lớn nhỏ, trong đó có khoảng 100 ngôi cổ tự. Các ngôi chùa ngày nay hầu như đều được trùng tu nhưng vẫn giữ được nét kiến trúc cổ kính, căn bản mang đậm màu sắc văn hóa Phật giáo. Dẫu là dấu tích truyền thống của tôn giáo nhưng những ngôi chùa cổ của Huế vẫn tiềm tàng những giá trị tâm linh, văn hóa, lịch sử của vùng đất cố đô.
09/05/2024(Xem: 6203)
Nhị vị canh cánh bên nhau suốt cả cuộc đời. Nhị vị cùng tòng học với Ngài BÍCH LIÊN ( Bình Định) rồi nhị vị dấn thân ĐEM ĐẠO VÀO ĐỜI , mỗi vị mỗi phong cách, mỗi vị một vị thế khác nhau, nhưng mỗi vị đều trung trinh lý tưởng : Coi việc phụng sự Phật pháp như là việc Nhà ( Hoằng Pháp vi gia vụ ) Nhị vị trọn đời trung trinh “ Thượng cầu Phật Đạo, hạ hóa chúng sanh.
07/05/2024(Xem: 4738)
Hòa Thượng thế danh NGUYỄN HƯỚNG, pháp danh TÂM HOÀN tự GIẢI QUY, hiệu HUỆ LONG, thuộc dòng thiền phái Lâm Tế đời thứ 43. Hòa Thượng sinh ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tý (1924) trong một gia đình môn phong Nho giáo tại làng Phú Thành, xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Giòng họ Nguyễn Phúc định cư dưới chân đồi Phốc Lốc tính đến đời Ngài đã trải qua 7 đời.Thân phụ là cụ ông Nguyễn Phúc Trì tự Tung pháp danh Không Đảnh, đích mẫu là cụ bà Trần Thị Kiện mất sớm, thân mẫu là cụ bà Lê Thị Chiếu pháp danh Không Chiêu, ông bà đều là đệ tử quy y với Quốc Sư Phước Huệ trú trì Tổ Đình Thập Tháp Di Đà. Thân phụ Ngài là một Hương chức trong làng, một vị đồ Nho giỏi văn chương thi phú, tín ngưỡng tôn sùng Phật giáo, ông bà sống rất phúc đức nhân hậu với mọi người. Gia đình Hòa Thượng có mười anh em(5 anh em trai, 5 chị em gái) Ngài là con thứ tám. Người anh cả của Hòa Thượng tục danh Nguyễn Cao theo Pháp Sư Phổ Huệ vào Nam, sau đó ở lại định cư lập nghiệp tại Vĩnh Long, người anh th
13/04/2024(Xem: 3570)
Trang nghiêm Đức Trí châu viên Thậm thâm Bát Nhã bên triền KHỔ KHÔNG Hành vô hành hạnh quán thông LỜI VÀNG KINH PHẬT trãi dòng Chân Như Niết bàn tịnh cảnh vô dư Nhập Như lai tạng như NHƯ LAI về Nhân gian mát bóng Bồ Đề Ma ha Bát Nhã quy về diệu âm.