Từ Thông chứng nghiệm……!

21/10/202517:45(Xem: 1864)
Từ Thông chứng nghiệm……!

ht tu thong-5ht tu thong-4

ht tu thong-8ht tu thong-7ht tu thong-5

Từ Thông chứng nghiệm……!


Trăng ngàn sáng giữa nhân gian.
Thầy về ban Ngọc, lời vàng kinh thi.
Đại thừa giáo pháp từ bi,
Độ cho Tăng chúng, uy nghi hành trì.


Tham thiền hành hoá đường đi,
Liễu liễu tịnh cốc, thầm thì vầng thơ.
Sáng trong tiếng nhạc bến bờ,
Bay ngàn đỉnh núi, nằm chờ trăng lên.


Giữa ngàn Như Huyễn bình yên,
Giữa ngàn bỉnh pháp, gậy thiền lắng nghe.
Giữa ngàn sóng gió lối về,
Giữa ngàn Tăng thỉnh, diệt mê lăng già.


Phá mê khai ngộ thiên hà,
Lời vàng thước Ngọc, chiều tà khói hương.
Pháp hoa trực chỉ soi đường,
Lăng nghiêm trực chỉ, tình thương bên thầy.


Chức Hiệu trưởng bấy lâu nay,
Thầy xem như mộng, trăng say qua bờ.
Độ người chứng ngộ thiền cơ,
Thầy buông thế sự, nhặt tờ tâm kinh.


Thầy xem vạn cảnh nhân sinh,
Hoà tang sắc tướng, tâm linh nghĩa huyền.
Thầy xem vạn cảnh là duyên,
Chẳng chuyên cúng bạch, chẳng thiền vi tâm.


Thầy xem ứng mộng sắc thân,
Trăng ngàn ngón chỉ, trực tầm Huân tu.
Như huyễn danh trứ thiền sư,
Từ Thông bút hiệu, đạo từ rãi bang.


Thầy trao lời pháp Ngọc vàng,
Quý thầy nên học, nghiêm trang thân mình.
Ấy là giới luật lời kinh,
Ấy là tu chứng, lộ trình liễu nhiên.


Thầy trao ánh đuốc đạo thiên,
Cho đàn hậu tấn, gối nghiên tu trì.
Giờ này nguyện bỏ ra đi,
Về trong cảnh Phật, nguồn thi tâm thầy.


Sắc thân mộng tưởng rả thay,
Pháp thân diệu dụng, thân này hợp tang.
Sống là chết, vọng cười khang,
Chết là chuyển cảnh, thức ngàn duyên xưa.


Chẳng chấp điếu, chẳng trình thưa,
Chẳng thời kinh tụng, tâm vừa truyền trao.
Chẳng cúng vọng, chẳng quyền cao,
Chẳng lời tiểu sử, trăng sao soi đường.


Bây giờ lời pháp ngộ thường,
Thầy lưu hậu thế, tấm gương liễu thiền.
Trú ngôi không trú nhân duyên.
Từ Thông chứng nghiệm, chứng thiền viên dung.


Hạnh ngộ kỳ duyên:
Bạch giác linh Ôn, chúng con là Tỳ Kheo Thích Minh Thế, trú xứ tại chùa Phước Thành, Cố Đô Huế, năm 2007 chúng con vào vùng đất Sài thành, để học và tham vấn hành đạo, chúng con có nhân duyên may mắn trú ở tại chùa Vĩnh nghiêm một vài tuần, được các huynh đệ đồng tu chỉ giáo, có nhân duyên đảnh lễ và tham vấn Ôn, tìm đọc các tác phẩm của Ôn biên soạn và dịch thuật, đọc những vần thơ thiền ngữ mà Ôn lưu lại cho hậu học một giá trị văn chương, từ học thuật tới kinh điển dịch truyền đúng nghĩa lý.
Lời Ôn giảng dạy cho các lớp Thầy đi qua, điều là dụng nghĩa Tánh - Tướng, khó nghe nhưng thâm sâu, khó hiểu nhưng tu chứng, khó thông nhưng kiên định thì dụng pháp âm vang, khó độ nhưng diệt mê khai ngộ.
Lời Ôn dạy, từ Pháp hoa, Lăng nghiêm, Lăng già, Duy thức, Bát Nhã, đều là trực chỉ kiến tánh, chúng con được dự thính và học từ Ôn rất nhiều.
Nhớ năm 2016, chúng con có nhân duyên về tại Liễu Liễu Đường, tham vấn và đảnh lễ được Ôn chỉ giáo cho Pháp Hoa và Lăng già, Duy thức, lời Ôn văng vẳng bên tai chúng con, chúng con nhớ lời Ôn dạy rằng:
“ Người càng tu, thì nhớ càng buông tham bao nhiêu thì tự tại bấy nhiêu, nhưng nhớ đừng chạm vào vô ngã, mà biến nó thành trực chỉ cõi tâm.
Người càng đoạn chấp, thì nhớ càng cố gắng rỗng không, thì mới gột rửa sạch tâm do quán chiếu Lăng Già dung thông.
Người tu pháp hoa kinh, nên thấy rõ về tuệ giác, phá mê khai ngộ, trong từng nội tại mới liễu tri tất cả các tri Kiến Phật …!”
Chúng con đón nhận pháp ngữ của Ôn và luôn luôn thực hiện trong pháp âm chánh niệm giữ thế gian pháp.
Rồi Ôn đọc cho chúng con nghe về ngón tay chỉ trăng, ẩn dụ các công phu tu tập mà Ôn hành trì.

Ôn nhìn con và bảo, Thầy Minh Thế, mới 29 tuổi, tuổi còn trẻ nên đi tham vấn các Bậc tôn túc, để dung thông những châu báu chánh pháp.
Ôn nói xong và trao cho chúng con một bài thi kệ rằng:

“ Trực chỉ kiến tánh Phật
Rỗng lặng pháp nhiên đăng
Minh thế hằng ứng nghiệm
Trí toả ngát hương trăng.


Từ Thông hành vô ngã,
Như huyễn hiệu vị tha
Trăng ngàn xưa ứng hạnh
Dứt khoát hạnh ta bà…! “

Và đây cũng là gặp Ôn lần cuối để chúng con được Vân du hành hoá xứ Bắc, đồng thời lấy thi kệ làm sở nguyện nhân duyên…!
Hôm nay, chúng con đồng nguyện hướng về giác linh đài, nơi tôn trí nhục thân của Ôn, nguyện giác linh Ôn, tùy duyên thuận xã, Vân du hành trình về bảo sở chân như.
Kính bạch giác linh Ôn, chúng con đang đi Tứ Động Tâm, nhận được tin Ôn thuận xã báo thân viên mãn, thì chính là lúc chúng con tới Câu Thi Na – Nơi Đức Phập nhập Niết Bàn. Chúng con đã chiêm bái và đảnh lễ tôn tượng kim thân đức Thế Tôn nhập Vô Dư Y Niết Bàn tại bảo tháp Niết Bàn và các thánh tích trong thánh địa này. Để vọng hướng giác linh Ôn Cao Đăng Tịch Giới, đồng tâm vọng hướng Chiêm bái và đảnh lễ Tháp Trà Tỳ – Nơi hỏa thiêu kim thân của đức Thế Tôn tại Kushinagar.
Nhân duyên ấy đã giúp chúng con kiên trì trong chánh pháp, như những lời mà Ôn từng trao gởi bằng sự tu tập cho các hậu duệ như chúng con noi theo…!
Kính bài biệt Giác Linh Ôn…!


Ngày 18-10- 2025. Lúc 9giờ 30 phút sáng tại Xứ Ấn Độ thuộc Kushinagar….!

Tk: Thích Minh Thế
Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 5913)
Cho phép con thành tâm kính cẩn chia buồn với quí ngài về nỗi mất mát lớn lao không sao tìm lại được. Ðối với kẻ hậu học, làm sao con không khỏi bồi hồi, luyến tiếc khi hay tin sự ra đi của cố Hoà thượng Thích Ðức Nhuận, người đã hiến trọn đời mình cho đạo pháp và dân tộc. Trong giờ phút này, nơi phương xa, một người đệ tử đã có nhân duyên muộn hầu cận, học hỏi nơi cố Hoà thượng khi còn ở Việt Nam, xin đảnh lễ chư tôn đức trong Tổ đình và xin quí ngài cho con có đôi lời bộc bạch với giác linh của cố Hoà thượng. Ngưỡng bạch giác linh Hoà thượng chứng giám.
09/04/2013(Xem: 9682)
Hòa Thượng Thích Thiện Trì thế danh Nguyễn Văn Hiến, Pháp danh Như Phụng, Pháp tự Thiện Trì, Pháp hiệu Ấn Ðạo thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ bốn mươi hai, Ngài sanh ngày 19 tháng 02 năm 1934 tại xã Nhơn Khánh, quận An Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh. Ngài xuất thân từ một gia đình thuần túy Phật Giáo, thân phụ của Ngài là cụ ông Nguyễn Hàn, Pháp danh Như Ðà. Thân mẫu của Ngài là cụ bà Bùi Thị Thiệp, Pháp danh Như Cảnh. Ngài có tất cả 10 anh em, 5 trai và năm gái.
09/04/2013(Xem: 28627)
Để ghi lại những công –tác Hoằng-pháp và Giáo-dục trong niên-khóa vừa qua, chúng tôi đã thuyết-pháp và giảng-giải các lớp ở Ấn-Quang cho hàng Phật-Tử tại gia, cũng như tại Viện Đại Học Vạn-Hạnh cho sinh-viên Phật-khoa năm thứ IV (73-74) về môn các tác phẩm Trung-Hoa. Và cũng thể theo lời yêu cầu của đa-số Phật-tử muốn có tài-liệu để học-tập và nghiên-cứu, nên chúng tôi gom góp các bài đã biên-soạn, đúc kết thành một tập sách với nhan đề: “GƯƠNG SÁNG NGƯỜI XƯA”.
09/04/2013(Xem: 13703)
hế danh của Sư Bà cũng chính là Ðạo Hiệu hiện tại. Song Thân khó nuôi con, nên lúc 2 tuổi hai Cụ đã đem vào chùa cúng cho Sư Bà Ðàm Soạn, Trú trì chùa Cự Ðà và được Sư Cụ đặt tên là Ðàm Lựu. Phụ thân của Sư Bà là Cụ Ông Ðặng Văn Cán và Mẫu thân là Cụ Bà Nguyễn Thị Cả. Sư Bà sanh vào ngày 13 tháng 6 năm Quý Dậu, 4.811 Quốc Lịch; nhằm ngày 04 tháng 08 năm 1933 Tây lịch; tại làng Tam Xá, xã Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Ðông, Bắc Việt Nam.
09/04/2013(Xem: 9217)
Hòa Thượng Thích Như Điển, thế danh Lê Cường, Pháp tự: Giải Minh, Pháp hiệu: Trí Tâm, sinh ngày 28 tháng 6 năm 1949 tại xã Xuyên Mỹ, quận Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, Việt Nam. Học lực: Cử nhân giáo dục và Cao học Phật giáo tại Nhật Bản. Gia cảnh: Con út trong số 8 người con gồm 5 trai và 3 gái; Thân phụ: Ông Lê Quyên, pd: Thị Tế, Thân mẫu: Bà Hồ thị Khéo, pd: Thị Sắc. Người anh thứ bảy đã xuất gia đầu Phật năm 1958 tại chùa Non Nước, Đà Nẵng. Hiện là Hòa Thượng Thích Bảo Lạc, Hội Chủ Giáo Hội PGVNTN Hải Ngoại tại UĐL-TTL, Phương Trượng Tự Viện Pháp Bảo tại Sydney, Úc Đại Lợi.
09/04/2013(Xem: 16792)
Tuyển tập Nhạc Phật Giáo do Nhạc Sĩ Hằng Vang (1933-2021) sáng tác
09/04/2013(Xem: 12137)
Nhìn tổng quát công trình nghiên tầm, khảo cứu các văn kiện, tài liệu cổ để tập thành các tác phẩm qua các bộ môn: Lịch Sử, Văn Hóa, Văn Học, Âm Nhạc, Triết học, Thiền học... của Tiến sỹ Sử gia Lê Mạnh Thát là một thành quả to lớn được kết tinh bởi một trí tuệ siêu tuyệt, một khả năng hy hữu, một thời gian liên lũy, lâu dài, qua nhiều thập niên. Đó là những yếu tố mà ít người có được, để lưu lại cho hậu thế những thành quả văn học đồ sộ và chuẩn xác trên dòng sử mệnh quê hương.
09/04/2013(Xem: 20833)
Vua Trần Nhân Tông là một vị anh hùng dân tộc, có những đóng góp to lớn, nhiều mặt cho đất nước, cho lịch sử. Vua đã trực tiếp lãnh đạo quân và dân nước ta, tập hợp được những nhà quân sự tài giỏi, huy động được tiềm lực của toàn dân, đánh thắng đội quân hung hãn, thiện chiến nhất thời bấy giờ, làm nên những chiến công oanh liệt Hàm Tử, Chương Dương, Bạch Đằng, Tây Kết lẫy lừng, đưa dân tộc ta lên đỉnh cao của thời đại. Không những thế, vua đã mở rộng biên cương của tổ quốc, đặt nền móng vững chắc cho sự nghiệp nam tiến hoành tráng của dân tộc, mà con cháu hôm nay và mai sau mãi mãi ghi nhớ và biết ơn.
09/04/2013(Xem: 17743)
Thiền sư Minh Châu Hương Hải là một tác gia lớn không những của văn học và triết học Phật giáo Việt Nam, mà còn của văn học và lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung. Từ nửa cuối thế kỷ 18, cuộc đời và tác phẩm của Minh Châu Hương Hải đã lôi cuốn sự chú ý của những người trí thức đương thời, trong đó nổi bật nhất là nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784).
08/04/2013(Xem: 12231)
Tôi may mắn được diện kiến Người một lần duy nhất, vào năm 1990, tại Chùa Huê Lâm, Thành phố Hồ Chí Minh. Lúc ấy, tôi làm trợ lý cho thầy Thích Phước Cẩn trong việc vận động phiên dịch và ấn hành Phật Quang Đại Từ Điển. Tôi được Người ân cần khích lệ và truyền trao những kinh nghiệm quý báu về cuộc đời tu học và làm việc Phật sự của Người, trong hơn năm mươi năm qua. Lúc ấy, Người đã tròn 80 tuổi. Sức khỏe của Người còn khá tốt. Tinh thần của Người sáng suốt khác thường. Giọng nói của Người thật từ tốn, nhẹ nhàng.