Từ Thông chứng nghiệm……!

21/10/202517:45(Xem: 1858)
Từ Thông chứng nghiệm……!

ht tu thong-5ht tu thong-4

ht tu thong-8ht tu thong-7ht tu thong-5

Từ Thông chứng nghiệm……!


Trăng ngàn sáng giữa nhân gian.
Thầy về ban Ngọc, lời vàng kinh thi.
Đại thừa giáo pháp từ bi,
Độ cho Tăng chúng, uy nghi hành trì.


Tham thiền hành hoá đường đi,
Liễu liễu tịnh cốc, thầm thì vầng thơ.
Sáng trong tiếng nhạc bến bờ,
Bay ngàn đỉnh núi, nằm chờ trăng lên.


Giữa ngàn Như Huyễn bình yên,
Giữa ngàn bỉnh pháp, gậy thiền lắng nghe.
Giữa ngàn sóng gió lối về,
Giữa ngàn Tăng thỉnh, diệt mê lăng già.


Phá mê khai ngộ thiên hà,
Lời vàng thước Ngọc, chiều tà khói hương.
Pháp hoa trực chỉ soi đường,
Lăng nghiêm trực chỉ, tình thương bên thầy.


Chức Hiệu trưởng bấy lâu nay,
Thầy xem như mộng, trăng say qua bờ.
Độ người chứng ngộ thiền cơ,
Thầy buông thế sự, nhặt tờ tâm kinh.


Thầy xem vạn cảnh nhân sinh,
Hoà tang sắc tướng, tâm linh nghĩa huyền.
Thầy xem vạn cảnh là duyên,
Chẳng chuyên cúng bạch, chẳng thiền vi tâm.


Thầy xem ứng mộng sắc thân,
Trăng ngàn ngón chỉ, trực tầm Huân tu.
Như huyễn danh trứ thiền sư,
Từ Thông bút hiệu, đạo từ rãi bang.


Thầy trao lời pháp Ngọc vàng,
Quý thầy nên học, nghiêm trang thân mình.
Ấy là giới luật lời kinh,
Ấy là tu chứng, lộ trình liễu nhiên.


Thầy trao ánh đuốc đạo thiên,
Cho đàn hậu tấn, gối nghiên tu trì.
Giờ này nguyện bỏ ra đi,
Về trong cảnh Phật, nguồn thi tâm thầy.


Sắc thân mộng tưởng rả thay,
Pháp thân diệu dụng, thân này hợp tang.
Sống là chết, vọng cười khang,
Chết là chuyển cảnh, thức ngàn duyên xưa.


Chẳng chấp điếu, chẳng trình thưa,
Chẳng thời kinh tụng, tâm vừa truyền trao.
Chẳng cúng vọng, chẳng quyền cao,
Chẳng lời tiểu sử, trăng sao soi đường.


Bây giờ lời pháp ngộ thường,
Thầy lưu hậu thế, tấm gương liễu thiền.
Trú ngôi không trú nhân duyên.
Từ Thông chứng nghiệm, chứng thiền viên dung.


Hạnh ngộ kỳ duyên:
Bạch giác linh Ôn, chúng con là Tỳ Kheo Thích Minh Thế, trú xứ tại chùa Phước Thành, Cố Đô Huế, năm 2007 chúng con vào vùng đất Sài thành, để học và tham vấn hành đạo, chúng con có nhân duyên may mắn trú ở tại chùa Vĩnh nghiêm một vài tuần, được các huynh đệ đồng tu chỉ giáo, có nhân duyên đảnh lễ và tham vấn Ôn, tìm đọc các tác phẩm của Ôn biên soạn và dịch thuật, đọc những vần thơ thiền ngữ mà Ôn lưu lại cho hậu học một giá trị văn chương, từ học thuật tới kinh điển dịch truyền đúng nghĩa lý.
Lời Ôn giảng dạy cho các lớp Thầy đi qua, điều là dụng nghĩa Tánh - Tướng, khó nghe nhưng thâm sâu, khó hiểu nhưng tu chứng, khó thông nhưng kiên định thì dụng pháp âm vang, khó độ nhưng diệt mê khai ngộ.
Lời Ôn dạy, từ Pháp hoa, Lăng nghiêm, Lăng già, Duy thức, Bát Nhã, đều là trực chỉ kiến tánh, chúng con được dự thính và học từ Ôn rất nhiều.
Nhớ năm 2016, chúng con có nhân duyên về tại Liễu Liễu Đường, tham vấn và đảnh lễ được Ôn chỉ giáo cho Pháp Hoa và Lăng già, Duy thức, lời Ôn văng vẳng bên tai chúng con, chúng con nhớ lời Ôn dạy rằng:
“ Người càng tu, thì nhớ càng buông tham bao nhiêu thì tự tại bấy nhiêu, nhưng nhớ đừng chạm vào vô ngã, mà biến nó thành trực chỉ cõi tâm.
Người càng đoạn chấp, thì nhớ càng cố gắng rỗng không, thì mới gột rửa sạch tâm do quán chiếu Lăng Già dung thông.
Người tu pháp hoa kinh, nên thấy rõ về tuệ giác, phá mê khai ngộ, trong từng nội tại mới liễu tri tất cả các tri Kiến Phật …!”
Chúng con đón nhận pháp ngữ của Ôn và luôn luôn thực hiện trong pháp âm chánh niệm giữ thế gian pháp.
Rồi Ôn đọc cho chúng con nghe về ngón tay chỉ trăng, ẩn dụ các công phu tu tập mà Ôn hành trì.

Ôn nhìn con và bảo, Thầy Minh Thế, mới 29 tuổi, tuổi còn trẻ nên đi tham vấn các Bậc tôn túc, để dung thông những châu báu chánh pháp.
Ôn nói xong và trao cho chúng con một bài thi kệ rằng:

“ Trực chỉ kiến tánh Phật
Rỗng lặng pháp nhiên đăng
Minh thế hằng ứng nghiệm
Trí toả ngát hương trăng.


Từ Thông hành vô ngã,
Như huyễn hiệu vị tha
Trăng ngàn xưa ứng hạnh
Dứt khoát hạnh ta bà…! “

Và đây cũng là gặp Ôn lần cuối để chúng con được Vân du hành hoá xứ Bắc, đồng thời lấy thi kệ làm sở nguyện nhân duyên…!
Hôm nay, chúng con đồng nguyện hướng về giác linh đài, nơi tôn trí nhục thân của Ôn, nguyện giác linh Ôn, tùy duyên thuận xã, Vân du hành trình về bảo sở chân như.
Kính bạch giác linh Ôn, chúng con đang đi Tứ Động Tâm, nhận được tin Ôn thuận xã báo thân viên mãn, thì chính là lúc chúng con tới Câu Thi Na – Nơi Đức Phập nhập Niết Bàn. Chúng con đã chiêm bái và đảnh lễ tôn tượng kim thân đức Thế Tôn nhập Vô Dư Y Niết Bàn tại bảo tháp Niết Bàn và các thánh tích trong thánh địa này. Để vọng hướng giác linh Ôn Cao Đăng Tịch Giới, đồng tâm vọng hướng Chiêm bái và đảnh lễ Tháp Trà Tỳ – Nơi hỏa thiêu kim thân của đức Thế Tôn tại Kushinagar.
Nhân duyên ấy đã giúp chúng con kiên trì trong chánh pháp, như những lời mà Ôn từng trao gởi bằng sự tu tập cho các hậu duệ như chúng con noi theo…!
Kính bài biệt Giác Linh Ôn…!


Ngày 18-10- 2025. Lúc 9giờ 30 phút sáng tại Xứ Ấn Độ thuộc Kushinagar….!

Tk: Thích Minh Thế
Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/01/2013(Xem: 8613)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.
07/01/2013(Xem: 9736)
Phần lớn độc giả biết nhiều đến các tiểu luận và các tập thơ phản chiến, nhưng ít người biết đến những bài thơ Thiền của Nhất Hạnh. Tôi xin trích một bài được nhà xuất bản Unicorn Press xuất bản trong tâp thơ Zen Poems của Nhất Hạnh vào năm 1976 (bản dịch Anh Ngữ) của Võ Đình. Bài này được in vào tuyển tập thơ nhạc họa vào mùa Phật Đản 1964
10/12/2012(Xem: 9997)
Cả cuộc đời 86 tuổi của Ngài Đội trời đạp đất, đã tròn chưa bản nguyện Kiếp tu hành 81 năm của Ngài Gánh vác hy sinh...
09/10/2012(Xem: 15408)
Thiền sư Lê Mạnh Thátcho rằng Vua Trần Nhân Tông là một nhân vật tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam nhất là vì tư tưởng hòa giải dân tộc của ông vẫn còn tính thời sự. Trả lời câu hỏi của BBC vì sao tư tưởng của Trần Nhân Tông (trị vì từ năm 1278-1293) và là Phật Hoàng, sáng lập ra phái thiền phái Trúc Lâm vẫn còn có tính thời sự đối với Việt Nam và cả quan hệ Mỹ - Việt cũng như Việt - Trung, Tiến sỹ Lê Mạnh Thát nói:
01/10/2012(Xem: 8168)
Kính bạch Giác Linh Đức Thầy, Dẫu biết rằng: “Cuộc đời là ảo mộng, vạn vật vốn vô thường, chuyển di không ngừng nghỉ, biến diệt lẽ tự nhiên, tử sanh không tránh khỏi.” Nhưng ân đức cao dày, tình thương nồng thắm, Đức Thầy đã ban cho hàng đệ tử chúng con, chẳng những được kết thành giới thân huệ mạng, mà còn mang lại cho cuộc đời giải thoát của chúng con vô vàn hạnh phúc… Ân đức ấy, mãi mãi khắc sâu vào cuộc đời tu học của chúng con vô cùng vững chắc, dù cho thời gian, sự vô thường có thay đổi...
22/09/2012(Xem: 9844)
Ni sư Thích Nữ Như Phụng nguyên là viện chủ chùa Long Vân , sinh tiền Ni sư là cố vấn ni chúng chùa Long Vân , làm Hóa chủ trường hạ trong 6 năm , trưởng phòng châm cứu từ thiện của chùa,thành viên mặt trận tổ quốc xã Tam Phước , trưởng bếp cơm từ thiện Bệnh viện đa khoa Long Thành. Suốt cả cuộc đời ni sư tận tụy cho sự nghiệp tu hành và hoằng dương Đạo pháp , một lòng chuyên tâm Niệm Phật A Di Đà , công quả viên mãn Ni sư an nhiên tự tại vãng sanh trong lúc đứng Niệm Phật cùng đại chúng trên Đại hùng bảo điện không gian tràn ngập hương cúng dường thanh tịnh .Sau khi làm lễ trà tì ngài để lại rất nhiều xá lợi minh chứng cho công đức tu hành tinh nghiêm của một vị cao ni.
21/09/2012(Xem: 13655)
Phật hoàng Trần Nhân Tông, tên húy là Trần Khâm, sinh ngày 07/12/1258 (11/11/Mậu Ngọ), con trưởng của Vua Trần Thánh Tông và Hoàng Thái hậu Nguyên Thánh. Thân hình Ngài có những đặc điểm khác thường, nhất là có màu vàng, nên được vua cha đặt cho biệt hiệu là Phật kim.
20/09/2012(Xem: 7704)
Sáng nay con về lại Vạn Hạnh, không phải đi học, không phải nộp bài thi, không phải đi đảnh lễ,... mà để đi tiễn Ôn về với Phật. Con hòa mình vào dòng người tấp nập trên giao lộ Nguyễn Kiệm trong buổi sớm bình minh. Một ngày như mọi ngày nhưng cảnh vật hôm nay không còn bình yên nữa. Cây cỏ úa màu, hoa buồn ủ rũ. Mọi người tất bật, nôn nao bước nhanh về cổng chùa Vạn Hạnh, như sợ chậm chân sẽ không còn chỗ cho mình cung tiễn Thầy đi.
08/09/2012(Xem: 10290)
Với Hòa thượng Minh Châu, một đại sư đã ra đi. Một đại sư cỡ ấy, thế hệ chúng ta chỉ có vài vị. Vài vị, nhưng là những ngọn đuốc soi sáng đường đi cho cả một nửa thế kỷ. Hôm nay, ngọn đuốc gần như là cuối cùng ấy đã tắt. Đã tắt, để nói với chúng ta, như Phật đã nói khi nhập diệt: Hãy tự thắp đuốc lên mà đi.
08/09/2012(Xem: 7976)
Tin Sư Ông ra-đi-về cõi bất sinh đã dệt nên những cơn bồi hồi, xúc động. Biết nói cái gì, và sẽ nói cái gì về một vầng ánh sáng chói lọi vừa lịm tắt? Càng cố nói về cái “rạng rỡ” thì càng trở nên vụng về! Nhưng vượt lên trên tất cả và vẫn còn hiện hữu nơi đây là tấm lòng tri ân sâu sắc đối với công trình dịch thuật Kinh tạng của Người. Lòng tri ân sâu thẳm đó vẫn âm ỉ trong tâm thức của những người từng có cơ duyên được học hỏi “triết lý giác ngộ”- một thứ triết lý nguyên thủyhàm chứa những kinh nghiệm chứng ngộ rất ngườicủa Đức Thế Tôn.