Từ Thông chứng nghiệm……!

21/10/202517:45(Xem: 1867)
Từ Thông chứng nghiệm……!

ht tu thong-5ht tu thong-4

ht tu thong-8ht tu thong-7ht tu thong-5

Từ Thông chứng nghiệm……!


Trăng ngàn sáng giữa nhân gian.
Thầy về ban Ngọc, lời vàng kinh thi.
Đại thừa giáo pháp từ bi,
Độ cho Tăng chúng, uy nghi hành trì.


Tham thiền hành hoá đường đi,
Liễu liễu tịnh cốc, thầm thì vầng thơ.
Sáng trong tiếng nhạc bến bờ,
Bay ngàn đỉnh núi, nằm chờ trăng lên.


Giữa ngàn Như Huyễn bình yên,
Giữa ngàn bỉnh pháp, gậy thiền lắng nghe.
Giữa ngàn sóng gió lối về,
Giữa ngàn Tăng thỉnh, diệt mê lăng già.


Phá mê khai ngộ thiên hà,
Lời vàng thước Ngọc, chiều tà khói hương.
Pháp hoa trực chỉ soi đường,
Lăng nghiêm trực chỉ, tình thương bên thầy.


Chức Hiệu trưởng bấy lâu nay,
Thầy xem như mộng, trăng say qua bờ.
Độ người chứng ngộ thiền cơ,
Thầy buông thế sự, nhặt tờ tâm kinh.


Thầy xem vạn cảnh nhân sinh,
Hoà tang sắc tướng, tâm linh nghĩa huyền.
Thầy xem vạn cảnh là duyên,
Chẳng chuyên cúng bạch, chẳng thiền vi tâm.


Thầy xem ứng mộng sắc thân,
Trăng ngàn ngón chỉ, trực tầm Huân tu.
Như huyễn danh trứ thiền sư,
Từ Thông bút hiệu, đạo từ rãi bang.


Thầy trao lời pháp Ngọc vàng,
Quý thầy nên học, nghiêm trang thân mình.
Ấy là giới luật lời kinh,
Ấy là tu chứng, lộ trình liễu nhiên.


Thầy trao ánh đuốc đạo thiên,
Cho đàn hậu tấn, gối nghiên tu trì.
Giờ này nguyện bỏ ra đi,
Về trong cảnh Phật, nguồn thi tâm thầy.


Sắc thân mộng tưởng rả thay,
Pháp thân diệu dụng, thân này hợp tang.
Sống là chết, vọng cười khang,
Chết là chuyển cảnh, thức ngàn duyên xưa.


Chẳng chấp điếu, chẳng trình thưa,
Chẳng thời kinh tụng, tâm vừa truyền trao.
Chẳng cúng vọng, chẳng quyền cao,
Chẳng lời tiểu sử, trăng sao soi đường.


Bây giờ lời pháp ngộ thường,
Thầy lưu hậu thế, tấm gương liễu thiền.
Trú ngôi không trú nhân duyên.
Từ Thông chứng nghiệm, chứng thiền viên dung.


Hạnh ngộ kỳ duyên:
Bạch giác linh Ôn, chúng con là Tỳ Kheo Thích Minh Thế, trú xứ tại chùa Phước Thành, Cố Đô Huế, năm 2007 chúng con vào vùng đất Sài thành, để học và tham vấn hành đạo, chúng con có nhân duyên may mắn trú ở tại chùa Vĩnh nghiêm một vài tuần, được các huynh đệ đồng tu chỉ giáo, có nhân duyên đảnh lễ và tham vấn Ôn, tìm đọc các tác phẩm của Ôn biên soạn và dịch thuật, đọc những vần thơ thiền ngữ mà Ôn lưu lại cho hậu học một giá trị văn chương, từ học thuật tới kinh điển dịch truyền đúng nghĩa lý.
Lời Ôn giảng dạy cho các lớp Thầy đi qua, điều là dụng nghĩa Tánh - Tướng, khó nghe nhưng thâm sâu, khó hiểu nhưng tu chứng, khó thông nhưng kiên định thì dụng pháp âm vang, khó độ nhưng diệt mê khai ngộ.
Lời Ôn dạy, từ Pháp hoa, Lăng nghiêm, Lăng già, Duy thức, Bát Nhã, đều là trực chỉ kiến tánh, chúng con được dự thính và học từ Ôn rất nhiều.
Nhớ năm 2016, chúng con có nhân duyên về tại Liễu Liễu Đường, tham vấn và đảnh lễ được Ôn chỉ giáo cho Pháp Hoa và Lăng già, Duy thức, lời Ôn văng vẳng bên tai chúng con, chúng con nhớ lời Ôn dạy rằng:
“ Người càng tu, thì nhớ càng buông tham bao nhiêu thì tự tại bấy nhiêu, nhưng nhớ đừng chạm vào vô ngã, mà biến nó thành trực chỉ cõi tâm.
Người càng đoạn chấp, thì nhớ càng cố gắng rỗng không, thì mới gột rửa sạch tâm do quán chiếu Lăng Già dung thông.
Người tu pháp hoa kinh, nên thấy rõ về tuệ giác, phá mê khai ngộ, trong từng nội tại mới liễu tri tất cả các tri Kiến Phật …!”
Chúng con đón nhận pháp ngữ của Ôn và luôn luôn thực hiện trong pháp âm chánh niệm giữ thế gian pháp.
Rồi Ôn đọc cho chúng con nghe về ngón tay chỉ trăng, ẩn dụ các công phu tu tập mà Ôn hành trì.

Ôn nhìn con và bảo, Thầy Minh Thế, mới 29 tuổi, tuổi còn trẻ nên đi tham vấn các Bậc tôn túc, để dung thông những châu báu chánh pháp.
Ôn nói xong và trao cho chúng con một bài thi kệ rằng:

“ Trực chỉ kiến tánh Phật
Rỗng lặng pháp nhiên đăng
Minh thế hằng ứng nghiệm
Trí toả ngát hương trăng.


Từ Thông hành vô ngã,
Như huyễn hiệu vị tha
Trăng ngàn xưa ứng hạnh
Dứt khoát hạnh ta bà…! “

Và đây cũng là gặp Ôn lần cuối để chúng con được Vân du hành hoá xứ Bắc, đồng thời lấy thi kệ làm sở nguyện nhân duyên…!
Hôm nay, chúng con đồng nguyện hướng về giác linh đài, nơi tôn trí nhục thân của Ôn, nguyện giác linh Ôn, tùy duyên thuận xã, Vân du hành trình về bảo sở chân như.
Kính bạch giác linh Ôn, chúng con đang đi Tứ Động Tâm, nhận được tin Ôn thuận xã báo thân viên mãn, thì chính là lúc chúng con tới Câu Thi Na – Nơi Đức Phập nhập Niết Bàn. Chúng con đã chiêm bái và đảnh lễ tôn tượng kim thân đức Thế Tôn nhập Vô Dư Y Niết Bàn tại bảo tháp Niết Bàn và các thánh tích trong thánh địa này. Để vọng hướng giác linh Ôn Cao Đăng Tịch Giới, đồng tâm vọng hướng Chiêm bái và đảnh lễ Tháp Trà Tỳ – Nơi hỏa thiêu kim thân của đức Thế Tôn tại Kushinagar.
Nhân duyên ấy đã giúp chúng con kiên trì trong chánh pháp, như những lời mà Ôn từng trao gởi bằng sự tu tập cho các hậu duệ như chúng con noi theo…!
Kính bài biệt Giác Linh Ôn…!


Ngày 18-10- 2025. Lúc 9giờ 30 phút sáng tại Xứ Ấn Độ thuộc Kushinagar….!

Tk: Thích Minh Thế
Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10474)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 10858)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 13524)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8812)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.
09/04/2013(Xem: 14908)
Hòa thượng pháp hiệu Thích-Thiện-Hòa, thế danh Hứa-Khắc-Lợi sanh năm 1907 tại làng Tân-Nhựt Chợ Lớn. Ngài sinh trong gia đình trung lưu phúc hậu, thân phụ là Hứa-hắc-Tài, thân mẫu là Nguyễn-Thị-Giáp. Gia đình cả thảy bảy anh em : ba nam, bốn nữ, Ngài là người thứ bảy. Vì người thứ tám mất sớm nên Ngài được coi là con út.
09/04/2013(Xem: 8575)
Hòa thượng pháp danh Trí Độ, hiệu Hồng Chân, thế danh Lê Kim Ba, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1894 tại thôn Phổ Trạch, xã Kỳ Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Sinh ra trong một gia đình Nho học, lúc thiếu thời Ngài học chữ Nho và năm 18 tuổi học trường Sư phạm. Vì thế mà sở học rất uyên thâm, thêm lòng mến mộ đạo Phật, Ngài đi sâu vào nghiên cứu giáo lý và trở thành một vị học Phật lỗi lạc.
09/04/2013(Xem: 9034)
Hòa Thượng pháp danh Thích Tâm Thi, đạo hiệu Tuệ Tạng, thế danh Trần Thanh Thuyên, sinh năm Canh Dần (1889) tại làng Quần Phương Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Thân phụ Ngài là ông Trần Tín tự Phúc Châu, thân mẫu là bà Vũ Thị Tú hiệu Diệu Hòa.
09/04/2013(Xem: 10233)
Hòa thượng Hộ Tông (1893-1981), Maha Thera Vansarakkhita, có thế danh là Lê Văn Giảng, sinhngày 15 tháng 10 năm 1893, tại làng Tân An, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Ngài xuất thân trongmột gia đình trung lưu trí thức, thân phụ là ông Lê Văn Như, thân mẫu là bà Đinh Thị Giêng.
09/04/2013(Xem: 8979)
Hòa Thượng họ Nguyễn, Húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, pháp hiệu Thích Trí Thủ. Ngày sinh ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Dậu, tức ngày 01-11-1909 trong một gia đình nho phong thanh bạch, tại làng Trung Kiên, tổng Bích Xa, phủ Triệu Phong (nay là xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là cụ Nguyễn Hưng Nghĩa, thân mẫu là cụ Lê Thị Chiếu. Hai cụ là người rất kính tín Tam Bảo. Vì vậy, dù là con trai độc nhất trong gia đình, lúc 14 tuổi Ngài đã được song thân cho vào học kinh kệ ở chùa Hải Đức Huế.
09/04/2013(Xem: 15079)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái.