Từ Thông chứng nghiệm……!

21/10/202517:45(Xem: 1871)
Từ Thông chứng nghiệm……!

ht tu thong-5ht tu thong-4

ht tu thong-8ht tu thong-7ht tu thong-5

Từ Thông chứng nghiệm……!


Trăng ngàn sáng giữa nhân gian.
Thầy về ban Ngọc, lời vàng kinh thi.
Đại thừa giáo pháp từ bi,
Độ cho Tăng chúng, uy nghi hành trì.


Tham thiền hành hoá đường đi,
Liễu liễu tịnh cốc, thầm thì vầng thơ.
Sáng trong tiếng nhạc bến bờ,
Bay ngàn đỉnh núi, nằm chờ trăng lên.


Giữa ngàn Như Huyễn bình yên,
Giữa ngàn bỉnh pháp, gậy thiền lắng nghe.
Giữa ngàn sóng gió lối về,
Giữa ngàn Tăng thỉnh, diệt mê lăng già.


Phá mê khai ngộ thiên hà,
Lời vàng thước Ngọc, chiều tà khói hương.
Pháp hoa trực chỉ soi đường,
Lăng nghiêm trực chỉ, tình thương bên thầy.


Chức Hiệu trưởng bấy lâu nay,
Thầy xem như mộng, trăng say qua bờ.
Độ người chứng ngộ thiền cơ,
Thầy buông thế sự, nhặt tờ tâm kinh.


Thầy xem vạn cảnh nhân sinh,
Hoà tang sắc tướng, tâm linh nghĩa huyền.
Thầy xem vạn cảnh là duyên,
Chẳng chuyên cúng bạch, chẳng thiền vi tâm.


Thầy xem ứng mộng sắc thân,
Trăng ngàn ngón chỉ, trực tầm Huân tu.
Như huyễn danh trứ thiền sư,
Từ Thông bút hiệu, đạo từ rãi bang.


Thầy trao lời pháp Ngọc vàng,
Quý thầy nên học, nghiêm trang thân mình.
Ấy là giới luật lời kinh,
Ấy là tu chứng, lộ trình liễu nhiên.


Thầy trao ánh đuốc đạo thiên,
Cho đàn hậu tấn, gối nghiên tu trì.
Giờ này nguyện bỏ ra đi,
Về trong cảnh Phật, nguồn thi tâm thầy.


Sắc thân mộng tưởng rả thay,
Pháp thân diệu dụng, thân này hợp tang.
Sống là chết, vọng cười khang,
Chết là chuyển cảnh, thức ngàn duyên xưa.


Chẳng chấp điếu, chẳng trình thưa,
Chẳng thời kinh tụng, tâm vừa truyền trao.
Chẳng cúng vọng, chẳng quyền cao,
Chẳng lời tiểu sử, trăng sao soi đường.


Bây giờ lời pháp ngộ thường,
Thầy lưu hậu thế, tấm gương liễu thiền.
Trú ngôi không trú nhân duyên.
Từ Thông chứng nghiệm, chứng thiền viên dung.


Hạnh ngộ kỳ duyên:
Bạch giác linh Ôn, chúng con là Tỳ Kheo Thích Minh Thế, trú xứ tại chùa Phước Thành, Cố Đô Huế, năm 2007 chúng con vào vùng đất Sài thành, để học và tham vấn hành đạo, chúng con có nhân duyên may mắn trú ở tại chùa Vĩnh nghiêm một vài tuần, được các huynh đệ đồng tu chỉ giáo, có nhân duyên đảnh lễ và tham vấn Ôn, tìm đọc các tác phẩm của Ôn biên soạn và dịch thuật, đọc những vần thơ thiền ngữ mà Ôn lưu lại cho hậu học một giá trị văn chương, từ học thuật tới kinh điển dịch truyền đúng nghĩa lý.
Lời Ôn giảng dạy cho các lớp Thầy đi qua, điều là dụng nghĩa Tánh - Tướng, khó nghe nhưng thâm sâu, khó hiểu nhưng tu chứng, khó thông nhưng kiên định thì dụng pháp âm vang, khó độ nhưng diệt mê khai ngộ.
Lời Ôn dạy, từ Pháp hoa, Lăng nghiêm, Lăng già, Duy thức, Bát Nhã, đều là trực chỉ kiến tánh, chúng con được dự thính và học từ Ôn rất nhiều.
Nhớ năm 2016, chúng con có nhân duyên về tại Liễu Liễu Đường, tham vấn và đảnh lễ được Ôn chỉ giáo cho Pháp Hoa và Lăng già, Duy thức, lời Ôn văng vẳng bên tai chúng con, chúng con nhớ lời Ôn dạy rằng:
“ Người càng tu, thì nhớ càng buông tham bao nhiêu thì tự tại bấy nhiêu, nhưng nhớ đừng chạm vào vô ngã, mà biến nó thành trực chỉ cõi tâm.
Người càng đoạn chấp, thì nhớ càng cố gắng rỗng không, thì mới gột rửa sạch tâm do quán chiếu Lăng Già dung thông.
Người tu pháp hoa kinh, nên thấy rõ về tuệ giác, phá mê khai ngộ, trong từng nội tại mới liễu tri tất cả các tri Kiến Phật …!”
Chúng con đón nhận pháp ngữ của Ôn và luôn luôn thực hiện trong pháp âm chánh niệm giữ thế gian pháp.
Rồi Ôn đọc cho chúng con nghe về ngón tay chỉ trăng, ẩn dụ các công phu tu tập mà Ôn hành trì.

Ôn nhìn con và bảo, Thầy Minh Thế, mới 29 tuổi, tuổi còn trẻ nên đi tham vấn các Bậc tôn túc, để dung thông những châu báu chánh pháp.
Ôn nói xong và trao cho chúng con một bài thi kệ rằng:

“ Trực chỉ kiến tánh Phật
Rỗng lặng pháp nhiên đăng
Minh thế hằng ứng nghiệm
Trí toả ngát hương trăng.


Từ Thông hành vô ngã,
Như huyễn hiệu vị tha
Trăng ngàn xưa ứng hạnh
Dứt khoát hạnh ta bà…! “

Và đây cũng là gặp Ôn lần cuối để chúng con được Vân du hành hoá xứ Bắc, đồng thời lấy thi kệ làm sở nguyện nhân duyên…!
Hôm nay, chúng con đồng nguyện hướng về giác linh đài, nơi tôn trí nhục thân của Ôn, nguyện giác linh Ôn, tùy duyên thuận xã, Vân du hành trình về bảo sở chân như.
Kính bạch giác linh Ôn, chúng con đang đi Tứ Động Tâm, nhận được tin Ôn thuận xã báo thân viên mãn, thì chính là lúc chúng con tới Câu Thi Na – Nơi Đức Phập nhập Niết Bàn. Chúng con đã chiêm bái và đảnh lễ tôn tượng kim thân đức Thế Tôn nhập Vô Dư Y Niết Bàn tại bảo tháp Niết Bàn và các thánh tích trong thánh địa này. Để vọng hướng giác linh Ôn Cao Đăng Tịch Giới, đồng tâm vọng hướng Chiêm bái và đảnh lễ Tháp Trà Tỳ – Nơi hỏa thiêu kim thân của đức Thế Tôn tại Kushinagar.
Nhân duyên ấy đã giúp chúng con kiên trì trong chánh pháp, như những lời mà Ôn từng trao gởi bằng sự tu tập cho các hậu duệ như chúng con noi theo…!
Kính bài biệt Giác Linh Ôn…!


Ngày 18-10- 2025. Lúc 9giờ 30 phút sáng tại Xứ Ấn Độ thuộc Kushinagar….!

Tk: Thích Minh Thế
Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 11010)
Đọc qua các Thiền sư Việt Nam từ xưa đến nay, chưa thấy một người nào đã chinh phục được các hàng vương tôn, quý tộc, khiến cho họ tín nhiệm, quy y và ủng hộ hết mình như Thiền sư Pháp Loa. Sư là một con người tích cực hoạt động, suốt đời tận tụy phục vụ đạo pháp cho đến hơi thở cuối cùng. Điều đặc biệt quan tâm của Sư là ấn hành Đại Tạng kinh, do đó đã đề xuất, tiến hành và in xong bộ Đại Tạng kinh Việt Nam. Ngoài ra, Sư đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thống nhất Phật giáo, thiết lập một Giáo hội Phật giáo thống nhất đầu tiên của Việt Nam, và Sư là người thứ nhất đúng ra thiết lập sổ bộ Tăng, Ni và tự viện trên khắp cả nước.
09/04/2013(Xem: 9521)
Sư người làng Vạn Tải, lộ Bắc Giang. Thỉ Tổ của Sư là Lý Ôn Hòa, làm quan Hành khiển dưới triều Lý Thần Tông (1128 - 1138). Trải nhiều đời, đến Tổ phụ là Tuệ Tổ, có công đánh giặc Chiêm Thành, nhưng không không chịu ra làm quan, chỉ thích những chuyện hay, sách lạ, và vui thú ruộng vườn. Mẹ Sư là Lê Thị, vốn người hiền đức, bản tính nhân từ, năm 30 tuổi vẫn chưa có con trai. Nhân gặp lúc có bệnh dịch hoành hành, bà đi hái thuốc trên núi Chu Sơn, dừng chân tạm nghỉ tại một ngôi chùa tên Ma Cô Tiên.
09/04/2013(Xem: 8707)
Truyền thống Phật giáo Việt Nam từ truớc đến nay vốn thiên về Phật giáo Phát triển hay Đại thừa; mãi đến năm 1959 lần đầu tiên bộ kinh Trường A Hàm do Hòa thượng Thích Thiện Siêu phiên dịch được xuất bản thì Phật giáo Nguyên thủy mới được các Phật tử chú ý đến. Mặc dù bộ kinh này nằm trong Hán tạng thuộc hệ thống Phật giáo Phát triển, nhưng tinh thần của nó thì tương quan mật thiết với 5 bộ Nikàya trong giáo lý Nguyên thủy.
09/04/2013(Xem: 8456)
Phương Tây có câu tục ngữ "Hoạn nạn làm lớn con người". Phương Đông cũng có câu danh ngôn tương tự "Ngậm cay đắng trong cay đắng mới làm con người trên loài Người". Trường hợp của Trần Thái Tông sao mà ứng với hai câu này đến thế?
09/04/2013(Xem: 8889)
Hòa thượng Thích Thiện Châu Nguyên Đạo (Đọc tại buổi lễ tưởng niệm và lễ Trà Tỳ Hòa thượng Thích Thiện Châu) Hòa thượng họ Hồ Đắc, tên Cư, Pháp danh Tâm Thật, Pháp hiệu Thiện Châu, sinh ngày 23 tháng 2 năm 1931 tức ngày 7 tháng 1 năm Tân Mùi tại làng An Truyền, huyện Phú Vang, Tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ Thầy là Cụ Hồ Đắc Phách, thân mẫu là Cụ Nguyễn Thị Cần.
09/04/2013(Xem: 35969)
Hòa thượng pháp danh Thiền Tâm, pháp hiệu Liên Du, tự Vô Nhất thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 43, thế danh Nguyễn Nhựt Thăng, sinh năm 1925 (Ất Sửu) tại xã Bình Xuân, Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Song thân là cụ Nguyễn Văn Hương và cụ Trần Thị Dung pháp danh Giác Ân. Ngài là người thứ 10 trong số 13 anh em, 4 trai, 9 gái.
09/04/2013(Xem: 10372)
Hòa Thượng Thích Thanh Kiểm, thế danh Vũ Văn Khang, sinh ngày 23/12/1921 (Tân Dậu), tại làng Tiêu Bảng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Thân phụ là Cụ Ông Vũ Đức Khanh, thân mẫu là Cụ Bà Đỗ Thị Thinh. Hoà thượng có 5 anh chị em, 3 trai 2 gái. Ngài là con thứ 4 trong gia đình.
09/04/2013(Xem: 8400)
Lý Càn Đức (Bính Ngọ 1066 - Mậu Thân 1128) là vua thứ 4 nhà Lý, con trai duy nhất của vua Lý Thánh Tông và Ỷ Lan phu nhân tức Linh Nhân hoàng hậu. Càn Đức sinh ra ở Cung Động Tiên, gác Du Thiềm (gác thưởng Trăng) vào tháng Giêng năm Bính Ngọ, niên hiệu Chương Thánh năm thứ 8 (23-2-1066), hồi vua Thánh Tông đã ngoài 40 tuổi. Một ngày sau ngày sinh thì được lập làm Thái tử, 6 tuổi vua cha mất, được tôn làm vua, tức vua Lý Nhân Tông. Vua có tướng hảo, tâm hiền, bản chất thông minh dũng lược.
09/04/2013(Xem: 9256)
Mỗi khi tâm niệm đến hành trạng Thiền sư Vạn Hạnh, chúng ta không thể không đề cập đến con người và sự nghiệp Lý Công Uẩn. Giá trị lịch sử của một con người không chỉ ảnh hưởng đến tự thân mà dư âm giá trị lịch sử của con người đó còn ảnh hưởng trực tiếp đến muôn người khác từ thế hệ này qua thế hệ khác. Và quả thật, Vạn Hạnh Thiền sư là người có công rất lớn trong việc khai sáng ra triều đại nhà Lý thì Lý Công Uẩn là vị vua đầu tiên thực thi tinh thần Vạn Hạnh bằng tất cả sự thể nhập "Đạo Pháp - Dân tộc" trong một thực thể duy nhất.
09/04/2013(Xem: 17003)
Có lần trong tù, đói quá, Thầy Quảng Độ nằm mơ thấy được nhà bếp cho một cái bánh bao. Ăn xong thấy bụng căng thẳng, no nê, rất hạnh phúc. Sự thật là đêm ấy, trước khi đi ngủ, vì đói quá nên thấy uống nước cho đầy bụng dễ ngủ. Và Thầy đã đái dầm ra quần. Sáng hôm đó Thầy có làm một bài thơ.