Thầy ung dung dạo bước …! (kính tiễn Giác Linh Hòa Thượng Thích Đức Nghi)

28/06/202417:03(Xem: 4085)
Thầy ung dung dạo bước …! (kính tiễn Giác Linh Hòa Thượng Thích Đức Nghi)



ht duc nghi-00ht duc nghi-000ht duc nghi-0000ht duc nghi-0000-ht duc nghi-0000-2
Thầy ung dung dạo bước …!


Cung trời cũ, Thầy ung dung dạo bước,
Chốn Hồng Trần, xin tạm gác niềm thương.
Như Huyền nhiệm, đến đi trong tự tại.
Diệt tang bồng, soi ảnh độ Tây phương.


Thầy lặng lẽ, như hành thâm đại nguyện.
Pháp Đại Bi, mật trú dạ Huân tu.
Trong thiền thất, Thầy an nhiên thiền tọa.
Thở và cười, chốn Bát Nhã Chơn như.


Bẩy Tám năm, Thầy thác sanh độ mộng,
Năm mốt mùa, giữ nét đẹp thiền gia.
Từ Bình định, nuôi mầm sen chí hạnh.
Khoác lên mình, pháp giới học ca sa.


Chốn Hải Đức, trao tình thương Kinh Luật,
Bút nghiêm trì, trong luận Tạng tàng thư.
Được Thầy bạn, vun bồi thêm khí mạch.
Chợt giấc mơ, xin nguyện trải tâm từ.


Bao sóng biển, chập trùng theo con nước.
Ngộ nhân duyên, xin tái thỉnh thời gian.
Như yếu chỉ, nhận lãng Tam pháp ấn.
Chọn Lâm viên, tìm mạch tuệ thênh thang.


Nương bốn chúng, Đại Tăng xin ấn chỉ,
Lấy luật nghi, như pháp hạnh tu thân.
Gieo phúc Đức, cho ngàn hoa trổ nhánh.
Chọn Bảo Lộc, tiếp đồ chúng Tăng Nhân.


Gậy thiền trượng, Chúc Thánh từ đây hiện.
Hiệu Đức Nghi, tiếp Nối mạch Chữ Đồng.
“An Lạc “Tự, giữa thiền môn chấn tỉnh.
Độ nhân sinh, hiểu Chánh pháp dung thông.


Thuyền Bát Nhã, dụng Từ bi tâm pháp,
Trải nghìn tay, mở thiền thất Đạo tràng.
Viện “Bát Nhã”, như dấu chân Chánh niệm.
Tự Không Nghi, giữ mạch pháp y vàng.


Bao đồ chúng, Tăng - Ni đều có đủ.
Cận sự Nam, như Thiện Nữ hộ trì.
Mở “Kim Cang”, “Di Đà”- “Niết Bàn” lộ.
Dụng “Hoa Nghiêm”, học Đồng Tử uy nghi.


Học “Pháp Hoa”, noi gương “Văn Thù” đỉnh.
“Tân lạc” Thiền, như hạnh độ “Quan Âm”.
“Phổ Hiền” Độ, chứng minh ngôi Viện Chủ.
Chùa “Trà”mạch, nguồn suối mạch ân thâm.


Trăm đồ chúng, nhiếp thâu lời chỉ dạy.
Rạng thiền thư, nơi chốn Tổ Thắng Quang.
Nuôi chí lớn, bủa khắp trời Nam Việt.
Tận trời Tây, nối mạch pháp thời gian.


Thầy Là vậy, tự do trong pháp học,
Úp mặt vào, từng kinh nghiệm trang kinh.
Sống tự tại, giữa Huân tu mùa hạ.
Trao pháp hành, cho Tứ chúng giữ gìn.


Thầy là vậy, tử sanh như pháp học.
Học vô thường, không vướng bận chi tâm.
Xin một lần, đến đi trong Như Thị.
Sống thanh bần, giản dị thật Uyên thâm.


Thầy xả huyễn, nguyện Thầy nay thành tựu.
Không vướng thân, hay khổ khổ hoại thân.
Mà nhất niệm, hiện tiền Di đà Niệm.
Chốn Tây Phương, Chánh niệm vững thêm gần.


Hàng tứ chúng, ngậm ngùi xin chào tiễn.
Ngộ tương Phùng, tri kỷ giữa mùa Xuân.
Đức Nghi hạnh, tự do bên Tịnh Độ.
Tiễn biệt Thầy, một kiếp hoá Độ Nhân.




ht duc nghi-00-2
ht duc nghi-11ht duc nghi-12ht duc nghi-2ht duc nghi-3ht duc nghi-4ht duc nghi-5ht duc nghi-6ht duc nghi-7ht duc nghi-8ht duc nghi-9

Nhân duyên:

Đệ tử chúng con thành tâm bái biệt giác linh Trưởng lão Hoà Thượng Viện Chủ Tu Viện An Lạc Tổ Đình, Đạo Hiệu thượng Đức hạ Nghi, ngài là vị tôn túc lớn tại thành phố Bảo Lộc, có giới Đức trang nghiêm, và khai Sơn những ngôi bảo tự lớn như: Tu Viện Bát Nhã, Hoa Nghiêm, Chùa Trà, Di Đà, Kim Cang, Văn Thù, Niết Bàn, Phổ Hiền, Pháp Hoa, Tân Lạc, Quan Âm….! Với cương vị Viện Chủ qua các tự viện mà ngài đích thân khai Sơn, và truyền lại cho các hàng Đệ tử, với công hạnh nuôi dưỡng đồ chúng với con số gần 100, có đủ hai bản nguyện đó là: Nhiếp hoá độ người qua bờ giác, khai hoá vùng đất xưa mở ra pháp hội đạo tràng, ngài thật xứng danh: “ Gậy Thiền Thích Tử “….!

Hôm nay, chúng con nhớ lại lời dạy xưa, khi được diện kiến ngài tại Chùa Hà- Nam Đàn Nghệ An, với lời dạy đơn sơ mà giản dị Ngài dạy rằng: “ Dù đường đi gian khó, nhưng vẫn trì đại bi tâm, dụng công phu tu tập nuôi pháp hạnh Di Đà, lấy Giới làm thể, lấy nguyện biến Thiên Thủ Quán âm!”

Ngài dạy thêm rằng: “ Thầy Minh Thế, cố gắng lên trong pháp tu Trì Đại Bi thiên thủ, nhớ đó mà về bản sở bảo Hoài chư Phật, lấy giới dụng giới, lấy nguyện dụng nguyện, lấy pháp thắng pháp, lấy tâm dụng Từ bi hỷ xả, mới là gốc rễ nuôi dưỡng Bát Chánh Đạo”

Hạnh phúc thay, chúng con được học và hành như pháp học ngài trao, rồi chúng con có duyên được thâm tình với những vị học trò của Ngài: Thượng Toạ Thích Thông Đức- Houston- Mỹ Quốc, Thượng Toạ Thích Đồng Niệm- Thắng Quang Tổ Đình…, cùng quý thầy Thích Đồng Tịnh, Thích Đồng Tuệ, Thích Đồng Hiếu, Thích Đồng Hoàng, Thích Nghiêm Thuận, Thích Đồng Ấn, và một số huynh đệ khác cũng là hàng con cháu của Ngài.

Giờ này chúng con kính phân ưu tới chư Tôn túc trong môn phong Tổ Đình An Lạc, và chư vị pháp lữ đồng tu, nhất tâm cầu nguyện cho giác linh Ngài: Thượng Đăng Bảo Đài, Liên Thuỳ Tịnh Cảnh”…!

Thành tâm bái biệt Ngài.

Mùa Tịnh Hạ An Cư-2568

Viết tại Tu Viện Bát Nhã- Bảo Lộc- Lâm Đồng, nhân lễ thỉnh Nhục thân ngài nhập kim quan. Lúc 14 giờ 10 phút, -ngày 20-05-Giáp Thìn, nhằm ngày 25-06-2024

Tk: Thích Minh Thế
Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang.







Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 9603)
Hòa Thượng Thích Thiện Trì thế danh Nguyễn Văn Hiến, Pháp danh Như Phụng, Pháp tự Thiện Trì, Pháp hiệu Ấn Ðạo thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ bốn mươi hai, Ngài sanh ngày 19 tháng 02 năm 1934 tại xã Nhơn Khánh, quận An Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh. Ngài xuất thân từ một gia đình thuần túy Phật Giáo, thân phụ của Ngài là cụ ông Nguyễn Hàn, Pháp danh Như Ðà. Thân mẫu của Ngài là cụ bà Bùi Thị Thiệp, Pháp danh Như Cảnh. Ngài có tất cả 10 anh em, 5 trai và năm gái.
09/04/2013(Xem: 28424)
Để ghi lại những công –tác Hoằng-pháp và Giáo-dục trong niên-khóa vừa qua, chúng tôi đã thuyết-pháp và giảng-giải các lớp ở Ấn-Quang cho hàng Phật-Tử tại gia, cũng như tại Viện Đại Học Vạn-Hạnh cho sinh-viên Phật-khoa năm thứ IV (73-74) về môn các tác phẩm Trung-Hoa. Và cũng thể theo lời yêu cầu của đa-số Phật-tử muốn có tài-liệu để học-tập và nghiên-cứu, nên chúng tôi gom góp các bài đã biên-soạn, đúc kết thành một tập sách với nhan đề: “GƯƠNG SÁNG NGƯỜI XƯA”.
09/04/2013(Xem: 13679)
hế danh của Sư Bà cũng chính là Ðạo Hiệu hiện tại. Song Thân khó nuôi con, nên lúc 2 tuổi hai Cụ đã đem vào chùa cúng cho Sư Bà Ðàm Soạn, Trú trì chùa Cự Ðà và được Sư Cụ đặt tên là Ðàm Lựu. Phụ thân của Sư Bà là Cụ Ông Ðặng Văn Cán và Mẫu thân là Cụ Bà Nguyễn Thị Cả. Sư Bà sanh vào ngày 13 tháng 6 năm Quý Dậu, 4.811 Quốc Lịch; nhằm ngày 04 tháng 08 năm 1933 Tây lịch; tại làng Tam Xá, xã Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Ðông, Bắc Việt Nam.
09/04/2013(Xem: 9201)
Hòa Thượng Thích Như Điển, thế danh Lê Cường, Pháp tự: Giải Minh, Pháp hiệu: Trí Tâm, sinh ngày 28 tháng 6 năm 1949 tại xã Xuyên Mỹ, quận Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, Việt Nam. Học lực: Cử nhân giáo dục và Cao học Phật giáo tại Nhật Bản. Gia cảnh: Con út trong số 8 người con gồm 5 trai và 3 gái; Thân phụ: Ông Lê Quyên, pd: Thị Tế, Thân mẫu: Bà Hồ thị Khéo, pd: Thị Sắc. Người anh thứ bảy đã xuất gia đầu Phật năm 1958 tại chùa Non Nước, Đà Nẵng. Hiện là Hòa Thượng Thích Bảo Lạc, Hội Chủ Giáo Hội PGVNTN Hải Ngoại tại UĐL-TTL, Phương Trượng Tự Viện Pháp Bảo tại Sydney, Úc Đại Lợi.
09/04/2013(Xem: 16704)
Tuyển tập Nhạc Phật Giáo do Nhạc Sĩ Hằng Vang (1933-2021) sáng tác
09/04/2013(Xem: 12121)
Nhìn tổng quát công trình nghiên tầm, khảo cứu các văn kiện, tài liệu cổ để tập thành các tác phẩm qua các bộ môn: Lịch Sử, Văn Hóa, Văn Học, Âm Nhạc, Triết học, Thiền học... của Tiến sỹ Sử gia Lê Mạnh Thát là một thành quả to lớn được kết tinh bởi một trí tuệ siêu tuyệt, một khả năng hy hữu, một thời gian liên lũy, lâu dài, qua nhiều thập niên. Đó là những yếu tố mà ít người có được, để lưu lại cho hậu thế những thành quả văn học đồ sộ và chuẩn xác trên dòng sử mệnh quê hương.
09/04/2013(Xem: 20790)
Vua Trần Nhân Tông là một vị anh hùng dân tộc, có những đóng góp to lớn, nhiều mặt cho đất nước, cho lịch sử. Vua đã trực tiếp lãnh đạo quân và dân nước ta, tập hợp được những nhà quân sự tài giỏi, huy động được tiềm lực của toàn dân, đánh thắng đội quân hung hãn, thiện chiến nhất thời bấy giờ, làm nên những chiến công oanh liệt Hàm Tử, Chương Dương, Bạch Đằng, Tây Kết lẫy lừng, đưa dân tộc ta lên đỉnh cao của thời đại. Không những thế, vua đã mở rộng biên cương của tổ quốc, đặt nền móng vững chắc cho sự nghiệp nam tiến hoành tráng của dân tộc, mà con cháu hôm nay và mai sau mãi mãi ghi nhớ và biết ơn.
09/04/2013(Xem: 17704)
Thiền sư Minh Châu Hương Hải là một tác gia lớn không những của văn học và triết học Phật giáo Việt Nam, mà còn của văn học và lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung. Từ nửa cuối thế kỷ 18, cuộc đời và tác phẩm của Minh Châu Hương Hải đã lôi cuốn sự chú ý của những người trí thức đương thời, trong đó nổi bật nhất là nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784).
08/04/2013(Xem: 12175)
Tôi may mắn được diện kiến Người một lần duy nhất, vào năm 1990, tại Chùa Huê Lâm, Thành phố Hồ Chí Minh. Lúc ấy, tôi làm trợ lý cho thầy Thích Phước Cẩn trong việc vận động phiên dịch và ấn hành Phật Quang Đại Từ Điển. Tôi được Người ân cần khích lệ và truyền trao những kinh nghiệm quý báu về cuộc đời tu học và làm việc Phật sự của Người, trong hơn năm mươi năm qua. Lúc ấy, Người đã tròn 80 tuổi. Sức khỏe của Người còn khá tốt. Tinh thần của Người sáng suốt khác thường. Giọng nói của Người thật từ tốn, nhẹ nhàng.
08/04/2013(Xem: 11029)
Thế nhưng, cũng như chư vị Thiền Tổ khác, sử cũ Việt Nam ta không có quyển nào ghi chép rõ ràng; thậm chí một dòng bi ký cho thật chính xác khắc trên đá cứng cũng không có. Sách Đại Nam nhất thống chí (1910) chỉ ghi: “Chùa Từ Đàm: Ở trên gò ấp Bình An. Tương truyền chùa do Tử Thông Hòa thượng dựng, lại có tên chùa Ấn Tôn”. Lời ghi chép quá đơn sơ, lại có phần sai nữa. Tử Dung chứ đâu phải là Tử Thông? Những tấm bia đá dựng ở chùa Chúc Thánh - Quảng Nam, lại chỉ nói Ngài là: “Người Đại Thanh, qua An Nam, trác tích Thuận Hóa, lập chùa Ấn Tôn”.