Thầy ung dung dạo bước …! (kính tiễn Giác Linh Hòa Thượng Thích Đức Nghi)

28/06/202417:03(Xem: 4094)
Thầy ung dung dạo bước …! (kính tiễn Giác Linh Hòa Thượng Thích Đức Nghi)



ht duc nghi-00ht duc nghi-000ht duc nghi-0000ht duc nghi-0000-ht duc nghi-0000-2
Thầy ung dung dạo bước …!


Cung trời cũ, Thầy ung dung dạo bước,
Chốn Hồng Trần, xin tạm gác niềm thương.
Như Huyền nhiệm, đến đi trong tự tại.
Diệt tang bồng, soi ảnh độ Tây phương.


Thầy lặng lẽ, như hành thâm đại nguyện.
Pháp Đại Bi, mật trú dạ Huân tu.
Trong thiền thất, Thầy an nhiên thiền tọa.
Thở và cười, chốn Bát Nhã Chơn như.


Bẩy Tám năm, Thầy thác sanh độ mộng,
Năm mốt mùa, giữ nét đẹp thiền gia.
Từ Bình định, nuôi mầm sen chí hạnh.
Khoác lên mình, pháp giới học ca sa.


Chốn Hải Đức, trao tình thương Kinh Luật,
Bút nghiêm trì, trong luận Tạng tàng thư.
Được Thầy bạn, vun bồi thêm khí mạch.
Chợt giấc mơ, xin nguyện trải tâm từ.


Bao sóng biển, chập trùng theo con nước.
Ngộ nhân duyên, xin tái thỉnh thời gian.
Như yếu chỉ, nhận lãng Tam pháp ấn.
Chọn Lâm viên, tìm mạch tuệ thênh thang.


Nương bốn chúng, Đại Tăng xin ấn chỉ,
Lấy luật nghi, như pháp hạnh tu thân.
Gieo phúc Đức, cho ngàn hoa trổ nhánh.
Chọn Bảo Lộc, tiếp đồ chúng Tăng Nhân.


Gậy thiền trượng, Chúc Thánh từ đây hiện.
Hiệu Đức Nghi, tiếp Nối mạch Chữ Đồng.
“An Lạc “Tự, giữa thiền môn chấn tỉnh.
Độ nhân sinh, hiểu Chánh pháp dung thông.


Thuyền Bát Nhã, dụng Từ bi tâm pháp,
Trải nghìn tay, mở thiền thất Đạo tràng.
Viện “Bát Nhã”, như dấu chân Chánh niệm.
Tự Không Nghi, giữ mạch pháp y vàng.


Bao đồ chúng, Tăng - Ni đều có đủ.
Cận sự Nam, như Thiện Nữ hộ trì.
Mở “Kim Cang”, “Di Đà”- “Niết Bàn” lộ.
Dụng “Hoa Nghiêm”, học Đồng Tử uy nghi.


Học “Pháp Hoa”, noi gương “Văn Thù” đỉnh.
“Tân lạc” Thiền, như hạnh độ “Quan Âm”.
“Phổ Hiền” Độ, chứng minh ngôi Viện Chủ.
Chùa “Trà”mạch, nguồn suối mạch ân thâm.


Trăm đồ chúng, nhiếp thâu lời chỉ dạy.
Rạng thiền thư, nơi chốn Tổ Thắng Quang.
Nuôi chí lớn, bủa khắp trời Nam Việt.
Tận trời Tây, nối mạch pháp thời gian.


Thầy Là vậy, tự do trong pháp học,
Úp mặt vào, từng kinh nghiệm trang kinh.
Sống tự tại, giữa Huân tu mùa hạ.
Trao pháp hành, cho Tứ chúng giữ gìn.


Thầy là vậy, tử sanh như pháp học.
Học vô thường, không vướng bận chi tâm.
Xin một lần, đến đi trong Như Thị.
Sống thanh bần, giản dị thật Uyên thâm.


Thầy xả huyễn, nguyện Thầy nay thành tựu.
Không vướng thân, hay khổ khổ hoại thân.
Mà nhất niệm, hiện tiền Di đà Niệm.
Chốn Tây Phương, Chánh niệm vững thêm gần.


Hàng tứ chúng, ngậm ngùi xin chào tiễn.
Ngộ tương Phùng, tri kỷ giữa mùa Xuân.
Đức Nghi hạnh, tự do bên Tịnh Độ.
Tiễn biệt Thầy, một kiếp hoá Độ Nhân.




ht duc nghi-00-2
ht duc nghi-11ht duc nghi-12ht duc nghi-2ht duc nghi-3ht duc nghi-4ht duc nghi-5ht duc nghi-6ht duc nghi-7ht duc nghi-8ht duc nghi-9

Nhân duyên:

Đệ tử chúng con thành tâm bái biệt giác linh Trưởng lão Hoà Thượng Viện Chủ Tu Viện An Lạc Tổ Đình, Đạo Hiệu thượng Đức hạ Nghi, ngài là vị tôn túc lớn tại thành phố Bảo Lộc, có giới Đức trang nghiêm, và khai Sơn những ngôi bảo tự lớn như: Tu Viện Bát Nhã, Hoa Nghiêm, Chùa Trà, Di Đà, Kim Cang, Văn Thù, Niết Bàn, Phổ Hiền, Pháp Hoa, Tân Lạc, Quan Âm….! Với cương vị Viện Chủ qua các tự viện mà ngài đích thân khai Sơn, và truyền lại cho các hàng Đệ tử, với công hạnh nuôi dưỡng đồ chúng với con số gần 100, có đủ hai bản nguyện đó là: Nhiếp hoá độ người qua bờ giác, khai hoá vùng đất xưa mở ra pháp hội đạo tràng, ngài thật xứng danh: “ Gậy Thiền Thích Tử “….!

Hôm nay, chúng con nhớ lại lời dạy xưa, khi được diện kiến ngài tại Chùa Hà- Nam Đàn Nghệ An, với lời dạy đơn sơ mà giản dị Ngài dạy rằng: “ Dù đường đi gian khó, nhưng vẫn trì đại bi tâm, dụng công phu tu tập nuôi pháp hạnh Di Đà, lấy Giới làm thể, lấy nguyện biến Thiên Thủ Quán âm!”

Ngài dạy thêm rằng: “ Thầy Minh Thế, cố gắng lên trong pháp tu Trì Đại Bi thiên thủ, nhớ đó mà về bản sở bảo Hoài chư Phật, lấy giới dụng giới, lấy nguyện dụng nguyện, lấy pháp thắng pháp, lấy tâm dụng Từ bi hỷ xả, mới là gốc rễ nuôi dưỡng Bát Chánh Đạo”

Hạnh phúc thay, chúng con được học và hành như pháp học ngài trao, rồi chúng con có duyên được thâm tình với những vị học trò của Ngài: Thượng Toạ Thích Thông Đức- Houston- Mỹ Quốc, Thượng Toạ Thích Đồng Niệm- Thắng Quang Tổ Đình…, cùng quý thầy Thích Đồng Tịnh, Thích Đồng Tuệ, Thích Đồng Hiếu, Thích Đồng Hoàng, Thích Nghiêm Thuận, Thích Đồng Ấn, và một số huynh đệ khác cũng là hàng con cháu của Ngài.

Giờ này chúng con kính phân ưu tới chư Tôn túc trong môn phong Tổ Đình An Lạc, và chư vị pháp lữ đồng tu, nhất tâm cầu nguyện cho giác linh Ngài: Thượng Đăng Bảo Đài, Liên Thuỳ Tịnh Cảnh”…!

Thành tâm bái biệt Ngài.

Mùa Tịnh Hạ An Cư-2568

Viết tại Tu Viện Bát Nhã- Bảo Lộc- Lâm Đồng, nhân lễ thỉnh Nhục thân ngài nhập kim quan. Lúc 14 giờ 10 phút, -ngày 20-05-Giáp Thìn, nhằm ngày 25-06-2024

Tk: Thích Minh Thế
Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang.







Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10483)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 13188)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8779)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.
09/04/2013(Xem: 14823)
Hòa thượng pháp hiệu Thích-Thiện-Hòa, thế danh Hứa-Khắc-Lợi sanh năm 1907 tại làng Tân-Nhựt Chợ Lớn. Ngài sinh trong gia đình trung lưu phúc hậu, thân phụ là Hứa-hắc-Tài, thân mẫu là Nguyễn-Thị-Giáp. Gia đình cả thảy bảy anh em : ba nam, bốn nữ, Ngài là người thứ bảy. Vì người thứ tám mất sớm nên Ngài được coi là con út.
09/04/2013(Xem: 8551)
Hòa thượng pháp danh Trí Độ, hiệu Hồng Chân, thế danh Lê Kim Ba, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1894 tại thôn Phổ Trạch, xã Kỳ Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Sinh ra trong một gia đình Nho học, lúc thiếu thời Ngài học chữ Nho và năm 18 tuổi học trường Sư phạm. Vì thế mà sở học rất uyên thâm, thêm lòng mến mộ đạo Phật, Ngài đi sâu vào nghiên cứu giáo lý và trở thành một vị học Phật lỗi lạc.
09/04/2013(Xem: 9002)
Hòa Thượng pháp danh Thích Tâm Thi, đạo hiệu Tuệ Tạng, thế danh Trần Thanh Thuyên, sinh năm Canh Dần (1889) tại làng Quần Phương Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Thân phụ Ngài là ông Trần Tín tự Phúc Châu, thân mẫu là bà Vũ Thị Tú hiệu Diệu Hòa.
09/04/2013(Xem: 10204)
Hòa thượng Hộ Tông (1893-1981), Maha Thera Vansarakkhita, có thế danh là Lê Văn Giảng, sinhngày 15 tháng 10 năm 1893, tại làng Tân An, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Ngài xuất thân trongmột gia đình trung lưu trí thức, thân phụ là ông Lê Văn Như, thân mẫu là bà Đinh Thị Giêng.
09/04/2013(Xem: 8955)
Hòa Thượng họ Nguyễn, Húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, pháp hiệu Thích Trí Thủ. Ngày sinh ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Dậu, tức ngày 01-11-1909 trong một gia đình nho phong thanh bạch, tại làng Trung Kiên, tổng Bích Xa, phủ Triệu Phong (nay là xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là cụ Nguyễn Hưng Nghĩa, thân mẫu là cụ Lê Thị Chiếu. Hai cụ là người rất kính tín Tam Bảo. Vì vậy, dù là con trai độc nhất trong gia đình, lúc 14 tuổi Ngài đã được song thân cho vào học kinh kệ ở chùa Hải Đức Huế.
09/04/2013(Xem: 14692)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái.
09/04/2013(Xem: 11814)
Hòa thượng húy Trần Thiện Hoa, pháp danh Thiện Hoa, hiệu Hoàn Tuyên, sanh ngày 7-8 năm Mậu Ngọ (1918), tại làng Tân Quy (sau đổi tên là An Phú Tân), quận Cầu Kè, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Trà Vinh). Hòa thượng là con út (thứ chín) trong gia đình. Thân phụ Hòa thượng huý Trần Văn Thê, pháp danh Thiện Huệ, thân mẫu húy Nguyễn Thị Sáu, pháp danh Diệu Tịnh. Toàn thể gia đình Hòa thượng đều quy y với tổ Chí Thiền chùa Phi Lai núi Voi, Châu Đốc. Pháp danh Thiện Hoa do Tổ đặt cho Hòa thượng.