Thầy ung dung dạo bước …! (kính tiễn Giác Linh Hòa Thượng Thích Đức Nghi)

28/06/202417:03(Xem: 4089)
Thầy ung dung dạo bước …! (kính tiễn Giác Linh Hòa Thượng Thích Đức Nghi)



ht duc nghi-00ht duc nghi-000ht duc nghi-0000ht duc nghi-0000-ht duc nghi-0000-2
Thầy ung dung dạo bước …!


Cung trời cũ, Thầy ung dung dạo bước,
Chốn Hồng Trần, xin tạm gác niềm thương.
Như Huyền nhiệm, đến đi trong tự tại.
Diệt tang bồng, soi ảnh độ Tây phương.


Thầy lặng lẽ, như hành thâm đại nguyện.
Pháp Đại Bi, mật trú dạ Huân tu.
Trong thiền thất, Thầy an nhiên thiền tọa.
Thở và cười, chốn Bát Nhã Chơn như.


Bẩy Tám năm, Thầy thác sanh độ mộng,
Năm mốt mùa, giữ nét đẹp thiền gia.
Từ Bình định, nuôi mầm sen chí hạnh.
Khoác lên mình, pháp giới học ca sa.


Chốn Hải Đức, trao tình thương Kinh Luật,
Bút nghiêm trì, trong luận Tạng tàng thư.
Được Thầy bạn, vun bồi thêm khí mạch.
Chợt giấc mơ, xin nguyện trải tâm từ.


Bao sóng biển, chập trùng theo con nước.
Ngộ nhân duyên, xin tái thỉnh thời gian.
Như yếu chỉ, nhận lãng Tam pháp ấn.
Chọn Lâm viên, tìm mạch tuệ thênh thang.


Nương bốn chúng, Đại Tăng xin ấn chỉ,
Lấy luật nghi, như pháp hạnh tu thân.
Gieo phúc Đức, cho ngàn hoa trổ nhánh.
Chọn Bảo Lộc, tiếp đồ chúng Tăng Nhân.


Gậy thiền trượng, Chúc Thánh từ đây hiện.
Hiệu Đức Nghi, tiếp Nối mạch Chữ Đồng.
“An Lạc “Tự, giữa thiền môn chấn tỉnh.
Độ nhân sinh, hiểu Chánh pháp dung thông.


Thuyền Bát Nhã, dụng Từ bi tâm pháp,
Trải nghìn tay, mở thiền thất Đạo tràng.
Viện “Bát Nhã”, như dấu chân Chánh niệm.
Tự Không Nghi, giữ mạch pháp y vàng.


Bao đồ chúng, Tăng - Ni đều có đủ.
Cận sự Nam, như Thiện Nữ hộ trì.
Mở “Kim Cang”, “Di Đà”- “Niết Bàn” lộ.
Dụng “Hoa Nghiêm”, học Đồng Tử uy nghi.


Học “Pháp Hoa”, noi gương “Văn Thù” đỉnh.
“Tân lạc” Thiền, như hạnh độ “Quan Âm”.
“Phổ Hiền” Độ, chứng minh ngôi Viện Chủ.
Chùa “Trà”mạch, nguồn suối mạch ân thâm.


Trăm đồ chúng, nhiếp thâu lời chỉ dạy.
Rạng thiền thư, nơi chốn Tổ Thắng Quang.
Nuôi chí lớn, bủa khắp trời Nam Việt.
Tận trời Tây, nối mạch pháp thời gian.


Thầy Là vậy, tự do trong pháp học,
Úp mặt vào, từng kinh nghiệm trang kinh.
Sống tự tại, giữa Huân tu mùa hạ.
Trao pháp hành, cho Tứ chúng giữ gìn.


Thầy là vậy, tử sanh như pháp học.
Học vô thường, không vướng bận chi tâm.
Xin một lần, đến đi trong Như Thị.
Sống thanh bần, giản dị thật Uyên thâm.


Thầy xả huyễn, nguyện Thầy nay thành tựu.
Không vướng thân, hay khổ khổ hoại thân.
Mà nhất niệm, hiện tiền Di đà Niệm.
Chốn Tây Phương, Chánh niệm vững thêm gần.


Hàng tứ chúng, ngậm ngùi xin chào tiễn.
Ngộ tương Phùng, tri kỷ giữa mùa Xuân.
Đức Nghi hạnh, tự do bên Tịnh Độ.
Tiễn biệt Thầy, một kiếp hoá Độ Nhân.




ht duc nghi-00-2
ht duc nghi-11ht duc nghi-12ht duc nghi-2ht duc nghi-3ht duc nghi-4ht duc nghi-5ht duc nghi-6ht duc nghi-7ht duc nghi-8ht duc nghi-9

Nhân duyên:

Đệ tử chúng con thành tâm bái biệt giác linh Trưởng lão Hoà Thượng Viện Chủ Tu Viện An Lạc Tổ Đình, Đạo Hiệu thượng Đức hạ Nghi, ngài là vị tôn túc lớn tại thành phố Bảo Lộc, có giới Đức trang nghiêm, và khai Sơn những ngôi bảo tự lớn như: Tu Viện Bát Nhã, Hoa Nghiêm, Chùa Trà, Di Đà, Kim Cang, Văn Thù, Niết Bàn, Phổ Hiền, Pháp Hoa, Tân Lạc, Quan Âm….! Với cương vị Viện Chủ qua các tự viện mà ngài đích thân khai Sơn, và truyền lại cho các hàng Đệ tử, với công hạnh nuôi dưỡng đồ chúng với con số gần 100, có đủ hai bản nguyện đó là: Nhiếp hoá độ người qua bờ giác, khai hoá vùng đất xưa mở ra pháp hội đạo tràng, ngài thật xứng danh: “ Gậy Thiền Thích Tử “….!

Hôm nay, chúng con nhớ lại lời dạy xưa, khi được diện kiến ngài tại Chùa Hà- Nam Đàn Nghệ An, với lời dạy đơn sơ mà giản dị Ngài dạy rằng: “ Dù đường đi gian khó, nhưng vẫn trì đại bi tâm, dụng công phu tu tập nuôi pháp hạnh Di Đà, lấy Giới làm thể, lấy nguyện biến Thiên Thủ Quán âm!”

Ngài dạy thêm rằng: “ Thầy Minh Thế, cố gắng lên trong pháp tu Trì Đại Bi thiên thủ, nhớ đó mà về bản sở bảo Hoài chư Phật, lấy giới dụng giới, lấy nguyện dụng nguyện, lấy pháp thắng pháp, lấy tâm dụng Từ bi hỷ xả, mới là gốc rễ nuôi dưỡng Bát Chánh Đạo”

Hạnh phúc thay, chúng con được học và hành như pháp học ngài trao, rồi chúng con có duyên được thâm tình với những vị học trò của Ngài: Thượng Toạ Thích Thông Đức- Houston- Mỹ Quốc, Thượng Toạ Thích Đồng Niệm- Thắng Quang Tổ Đình…, cùng quý thầy Thích Đồng Tịnh, Thích Đồng Tuệ, Thích Đồng Hiếu, Thích Đồng Hoàng, Thích Nghiêm Thuận, Thích Đồng Ấn, và một số huynh đệ khác cũng là hàng con cháu của Ngài.

Giờ này chúng con kính phân ưu tới chư Tôn túc trong môn phong Tổ Đình An Lạc, và chư vị pháp lữ đồng tu, nhất tâm cầu nguyện cho giác linh Ngài: Thượng Đăng Bảo Đài, Liên Thuỳ Tịnh Cảnh”…!

Thành tâm bái biệt Ngài.

Mùa Tịnh Hạ An Cư-2568

Viết tại Tu Viện Bát Nhã- Bảo Lộc- Lâm Đồng, nhân lễ thỉnh Nhục thân ngài nhập kim quan. Lúc 14 giờ 10 phút, -ngày 20-05-Giáp Thìn, nhằm ngày 25-06-2024

Tk: Thích Minh Thế
Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang.







Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10793)
Từ ngày 18-23/5/1996 HT.Thích Minh Châu, Phó CT kiêm Tổng thư ký GHPGVN, Viện trưởng Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, Hiệu trưởng trường CCPHVN... đã lên đường đến Thái Lan để nhận bằng Tiến Sĩ Phật Học Danh Dự (Honarary Doctorate Degree in Buddhist studies) tại Đại Học Phật Giáo Mahachulalongkornrajvidyalaya, Thủ đô Bangkok, Thái lan.
09/04/2013(Xem: 13085)
Thiền sư THÍCH ĐỨC NHUẬN, pháp hiệu Trí Tạng, thế danh Đồng Văn Kha, sinh ngày 14 tháng Chạp năm Quí hợi (thứ bảy, ngày 19 tháng giêng, 1924). Chính quán : làng Lạc Chính, xã Duyên Bình, huyện Trực Ninh, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Thân phụ là Đồng Văn Trung và thân mẫu là bà chính thất Hà Thị Thìn hiệu Trinh Thục (cả hai vị đều đã mãn phần). Là con thứ tư trong một gia đình thanh bần - dòng quí tộc. Ngài có 2 anh, 1 chị và 3 người em dì bào (2 trai, 1 gái).
09/04/2013(Xem: 7662)
Hòa thượng Thích Quảng Đức, thế danh là Lâm Văn Tuất sinh năm 1897 (Đinh Dậu) tại thôn Hội Khánh, xã Vạn Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Thân sinh là cụ Lâm Hũu Ứng và bà Nguyễn Thị Nương.
09/04/2013(Xem: 10462)
Hòa Thượng Bửu Chơn thế danh là Phạm Văn Thông, sinh năm Tân Hợi (1911) tại Sa Đéc – Đồng Tháp. Thuở thiếu thời Ngài sinh sống tại đất nước Chùa Tháp Campuchia, do đó Ngài thấm nhuần Phật Giáo Nam Tông vốn là quốc giáo của Vương quốc này. Sẵn có túc duyên Phật pháp nên vào năm 1940, Ngài xuất gia thuộc hệ phái Nam Tông. Sau đó Ngài vào rừng chấp trì hạnh đầu đà (Dhatanga) suốt mười hai năm. Năm 1951 Ngài được Phật tử Việt Nam cung thỉnh về Sài Gòn để truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy
09/04/2013(Xem: 9788)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc.
09/04/2013(Xem: 11024)
Hòa thượng Khánh Hòa thế danh Lê Khánh Hòa, Pháp danh Như Trí, pháp hiệu Khánh Hòa, sinh năm Mậu Thân (1877) tại làng Phú Lễ, tổng Bảo Trị, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
09/04/2013(Xem: 9461)
Hòa thượng Thích Hưng Từ, thế danh Bùi Vạn Anh, sinh ngày mùng 1 tháng 8 năm Tân Hợi ( 1911 ) tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ngài sinh trong một gia đình có truyền thống đạo Phật. Thân phụ là cụ Bùi Thế Vĩ, pháp danh Như chơn, thân mẫu là cụ bà Võ Thị Biểu, pháp danh là Thị Bửu. Từ nhỏ Ngài được song thân giáo dục trong tinh thần từ bi và chan chứa đức hỷ xả của Phật, nên Ngài sớm mộ cửa Thiền.
09/04/2013(Xem: 9266)
Hòa thượng Huệ Quang, thế danh Nguyễn Văn Ân sing năm 1888 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, sau theo mẹ về Trà Vinh. Năm 1902,Ngài xin xuất gia vào chùa Long Thành ở Trà Cú được Hòa thượng Thiện Trí mến thương đặt danh pháp là Thiện Hải. Ngoài giờ học Phật pháp, Ngài lại được Hòa thượng cho học thêm y học.
09/04/2013(Xem: 9057)
Hòa thượng Thích Phúc Hộ, thế danh là Huỳnh Văn Nghĩa, sinh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái năm thứ 16 tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Song thân của Ngài là cụ ông Huỳnh Trung và cụ bà Trần Thị Nho.
09/04/2013(Xem: 10404)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).