Thầy ung dung dạo bước …! (kính tiễn Giác Linh Hòa Thượng Thích Đức Nghi)

28/06/202417:03(Xem: 4286)
Thầy ung dung dạo bước …! (kính tiễn Giác Linh Hòa Thượng Thích Đức Nghi)



ht duc nghi-00ht duc nghi-000ht duc nghi-0000ht duc nghi-0000-ht duc nghi-0000-2
Thầy ung dung dạo bước …!


Cung trời cũ, Thầy ung dung dạo bước,
Chốn Hồng Trần, xin tạm gác niềm thương.
Như Huyền nhiệm, đến đi trong tự tại.
Diệt tang bồng, soi ảnh độ Tây phương.


Thầy lặng lẽ, như hành thâm đại nguyện.
Pháp Đại Bi, mật trú dạ Huân tu.
Trong thiền thất, Thầy an nhiên thiền tọa.
Thở và cười, chốn Bát Nhã Chơn như.


Bẩy Tám năm, Thầy thác sanh độ mộng,
Năm mốt mùa, giữ nét đẹp thiền gia.
Từ Bình định, nuôi mầm sen chí hạnh.
Khoác lên mình, pháp giới học ca sa.


Chốn Hải Đức, trao tình thương Kinh Luật,
Bút nghiêm trì, trong luận Tạng tàng thư.
Được Thầy bạn, vun bồi thêm khí mạch.
Chợt giấc mơ, xin nguyện trải tâm từ.


Bao sóng biển, chập trùng theo con nước.
Ngộ nhân duyên, xin tái thỉnh thời gian.
Như yếu chỉ, nhận lãng Tam pháp ấn.
Chọn Lâm viên, tìm mạch tuệ thênh thang.


Nương bốn chúng, Đại Tăng xin ấn chỉ,
Lấy luật nghi, như pháp hạnh tu thân.
Gieo phúc Đức, cho ngàn hoa trổ nhánh.
Chọn Bảo Lộc, tiếp đồ chúng Tăng Nhân.


Gậy thiền trượng, Chúc Thánh từ đây hiện.
Hiệu Đức Nghi, tiếp Nối mạch Chữ Đồng.
“An Lạc “Tự, giữa thiền môn chấn tỉnh.
Độ nhân sinh, hiểu Chánh pháp dung thông.


Thuyền Bát Nhã, dụng Từ bi tâm pháp,
Trải nghìn tay, mở thiền thất Đạo tràng.
Viện “Bát Nhã”, như dấu chân Chánh niệm.
Tự Không Nghi, giữ mạch pháp y vàng.


Bao đồ chúng, Tăng - Ni đều có đủ.
Cận sự Nam, như Thiện Nữ hộ trì.
Mở “Kim Cang”, “Di Đà”- “Niết Bàn” lộ.
Dụng “Hoa Nghiêm”, học Đồng Tử uy nghi.


Học “Pháp Hoa”, noi gương “Văn Thù” đỉnh.
“Tân lạc” Thiền, như hạnh độ “Quan Âm”.
“Phổ Hiền” Độ, chứng minh ngôi Viện Chủ.
Chùa “Trà”mạch, nguồn suối mạch ân thâm.


Trăm đồ chúng, nhiếp thâu lời chỉ dạy.
Rạng thiền thư, nơi chốn Tổ Thắng Quang.
Nuôi chí lớn, bủa khắp trời Nam Việt.
Tận trời Tây, nối mạch pháp thời gian.


Thầy Là vậy, tự do trong pháp học,
Úp mặt vào, từng kinh nghiệm trang kinh.
Sống tự tại, giữa Huân tu mùa hạ.
Trao pháp hành, cho Tứ chúng giữ gìn.


Thầy là vậy, tử sanh như pháp học.
Học vô thường, không vướng bận chi tâm.
Xin một lần, đến đi trong Như Thị.
Sống thanh bần, giản dị thật Uyên thâm.


Thầy xả huyễn, nguyện Thầy nay thành tựu.
Không vướng thân, hay khổ khổ hoại thân.
Mà nhất niệm, hiện tiền Di đà Niệm.
Chốn Tây Phương, Chánh niệm vững thêm gần.


Hàng tứ chúng, ngậm ngùi xin chào tiễn.
Ngộ tương Phùng, tri kỷ giữa mùa Xuân.
Đức Nghi hạnh, tự do bên Tịnh Độ.
Tiễn biệt Thầy, một kiếp hoá Độ Nhân.




ht duc nghi-00-2
ht duc nghi-11ht duc nghi-12ht duc nghi-2ht duc nghi-3ht duc nghi-4ht duc nghi-5ht duc nghi-6ht duc nghi-7ht duc nghi-8ht duc nghi-9

Nhân duyên:

Đệ tử chúng con thành tâm bái biệt giác linh Trưởng lão Hoà Thượng Viện Chủ Tu Viện An Lạc Tổ Đình, Đạo Hiệu thượng Đức hạ Nghi, ngài là vị tôn túc lớn tại thành phố Bảo Lộc, có giới Đức trang nghiêm, và khai Sơn những ngôi bảo tự lớn như: Tu Viện Bát Nhã, Hoa Nghiêm, Chùa Trà, Di Đà, Kim Cang, Văn Thù, Niết Bàn, Phổ Hiền, Pháp Hoa, Tân Lạc, Quan Âm….! Với cương vị Viện Chủ qua các tự viện mà ngài đích thân khai Sơn, và truyền lại cho các hàng Đệ tử, với công hạnh nuôi dưỡng đồ chúng với con số gần 100, có đủ hai bản nguyện đó là: Nhiếp hoá độ người qua bờ giác, khai hoá vùng đất xưa mở ra pháp hội đạo tràng, ngài thật xứng danh: “ Gậy Thiền Thích Tử “….!

Hôm nay, chúng con nhớ lại lời dạy xưa, khi được diện kiến ngài tại Chùa Hà- Nam Đàn Nghệ An, với lời dạy đơn sơ mà giản dị Ngài dạy rằng: “ Dù đường đi gian khó, nhưng vẫn trì đại bi tâm, dụng công phu tu tập nuôi pháp hạnh Di Đà, lấy Giới làm thể, lấy nguyện biến Thiên Thủ Quán âm!”

Ngài dạy thêm rằng: “ Thầy Minh Thế, cố gắng lên trong pháp tu Trì Đại Bi thiên thủ, nhớ đó mà về bản sở bảo Hoài chư Phật, lấy giới dụng giới, lấy nguyện dụng nguyện, lấy pháp thắng pháp, lấy tâm dụng Từ bi hỷ xả, mới là gốc rễ nuôi dưỡng Bát Chánh Đạo”

Hạnh phúc thay, chúng con được học và hành như pháp học ngài trao, rồi chúng con có duyên được thâm tình với những vị học trò của Ngài: Thượng Toạ Thích Thông Đức- Houston- Mỹ Quốc, Thượng Toạ Thích Đồng Niệm- Thắng Quang Tổ Đình…, cùng quý thầy Thích Đồng Tịnh, Thích Đồng Tuệ, Thích Đồng Hiếu, Thích Đồng Hoàng, Thích Nghiêm Thuận, Thích Đồng Ấn, và một số huynh đệ khác cũng là hàng con cháu của Ngài.

Giờ này chúng con kính phân ưu tới chư Tôn túc trong môn phong Tổ Đình An Lạc, và chư vị pháp lữ đồng tu, nhất tâm cầu nguyện cho giác linh Ngài: Thượng Đăng Bảo Đài, Liên Thuỳ Tịnh Cảnh”…!

Thành tâm bái biệt Ngài.

Mùa Tịnh Hạ An Cư-2568

Viết tại Tu Viện Bát Nhã- Bảo Lộc- Lâm Đồng, nhân lễ thỉnh Nhục thân ngài nhập kim quan. Lúc 14 giờ 10 phút, -ngày 20-05-Giáp Thìn, nhằm ngày 25-06-2024

Tk: Thích Minh Thế
Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang.







Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/03/2013(Xem: 8641)
Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam, trước năm 1975 là một trung tâm văn hóa Phật giáo nổi tiếng lừng lẫy. Nơi đây đã quy tụ biết bao hào kiệt trượng phu, biết bao tao nhân mặc khách, biết bao giáo sư, triết gia cự phách thượng đẳng. Đặc biệt là các thiên tài xuất chúng siêu việt như Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, nổi bật nhất là Bùi Giáng, một thi sĩ kỳ dị, xưa nay chưa từng thấy xuất hiện trên bầu trời văn nghệ Việt Nam và thế giới.
11/03/2013(Xem: 8822)
Lê Quý Đôn (1726-1784) là một danh sĩ, nhà văn hóa, sử gia, sống vào đời Hậu Lê. Ông không những ba lần thi đều đỗ đầu, kinh qua nhiều chức quan, đã từng đi sứ sang Trung Quốc, mà còn là một nhà bác học, đã để lại một gia tài đồ sộ bao gồm khoảng 16 tác phẩm và nhiều thơ, phú bằng chữ Nôm khác. [1] Trong số những tác phẩm ấy, có Kiến văn tiểu lục, [2] là một tác phẩm dành riêng quyển 9 – thiên Thiền dật, để viết về Phật giáo và Thiền tông Phật giáo Việt Nam, chủ yếu là những vị Tổ thuộc Thiền phái Trúc lâm. Trong bài viết ngắn này, chúng ta thử chỉ tìm hiểu quan điểm của Lê Quý Đôn về Phật giáo, mà không bàn sâu đến phần Thiền tông Việt Nam mà ông đã chép.
21/02/2013(Xem: 9757)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái. Ngài sinh trưởng trong một gia đình Nho phong. Thân phụ Ngài tinh thông Hán học. Cả hai ông bà lại rất thâm tín Phật pháp. Do đó, Ngài được hấp thụ ngay từ thuở ấu thơ hai nền văn hóa cổ truyền của dân tộc là Khổng giáo và Phật giáo.
19/02/2013(Xem: 11539)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 13142)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24362)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10399)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8697)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8629)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.
12/01/2013(Xem: 8636)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.