Ngài Hải Thịnh Quy Tây

01/04/202315:37(Xem: 3785)
Ngài Hải Thịnh Quy Tây



ht hai thinh (3)


Ngài Hải Thịnh Quy Tây.

Huế lưu ảnh, dòng Hương Giang thơ mộng.
Vọng chuông ngân, chùa Thiêng Mụ Thơm trong.
Thơm mùi đạo, áo tràng lam trượng thất.
Mõ nhịp đều, sương mờ ảnh sắc không.


Mây phủ kính, dòng tâm tang tiễn góc.
Dấu phong Trần, năm ấm vội tang thông.
Mượn huyễn thân, khoác lên áo nâu sòng.
Tu tinh tấn, tâm Phật ngộ bên trong.


Sáu mươi năm, rừng thiền nương bóng Nguyệt.
Hầu Tôn sư, giữ giới định nghiêm mình.
Lo Phật sự, với vai trò Tri sự.
Dạy đồ Tôn, biết giữ gìn lời kinh.


Phòng phương trượng, gậy thiền sư trấn tích.
Chuổi lần tràng, nhất tâm niệm Nam Mô.
Vui trà tịnh, an trú tâm cõi Phật.
Chiếc guốc mộc, dựng cửa thất thiền thơ.


Giới nghiêm Lạp, tháng ngày kinh mõ tuệ,
Ngộ Pháp hoa, trì niệm chẳng thời quên.
Đàn Cụ Túc, trao hiệu Thích Hải Thịnh.
Mãi Tôn thờ, hình Phật ảnh nhân duyên.


Bóng triền non, ẩn mình trong trượng phủ,
Phiến đá thời, ngộ pháp học thiền sư.
Vui tầm đạo, phù Vân mây chẳng bận.
Tịnh tọa đài, bóng phủ kiếp chân tu.

Không huyễn tướng, mượn thời kinh nghiêm mật.
Sắc Huyền không, lão tử chớ sanh nghi,
Bừng tĩnh ngộ, vô thường trong hơi thở.
Trả mộng đời, niệm Phật bước ra đi.


Xin bái biệt, bậc thiền sư an trú.
Niết bàn xưa, khai ngộ tính pháp vương.
Xin bái biệt, bậc an hành thiền giả.
Quốc độ hành, Tịnh độ cảnh Trung ương.


Xin bái biệt, bậc Thiền Tăng ẩn sĩ,
Giới nghiêm hành, sống phạm hạnh trung tôn.
Ngài Hải Thịnh, xin giã từ tứ chúng.
Vọng liên Thuỳ, Tâm Quang trú hương thơm.



ht hai thinh (6)


ht hai thinh (4)
ht hai thinh (5)


ht hai thinh (2)

ht hai thinh (1)

Nhớ Ký ức Xưa:

Sinh thời, chúng con là một tiểu oanh vũ gia đình Phật tử khuôn hội Phật giáo Xuân An, chúng con thường xuyên hay lui tới chùa Thiên Mụ, đảnh lễ và tham quan nghiêm cứu dòng lịch sử chùa, nên chúng con từng được tham vấn Ôn trong thời gian 1990-1997.
Ôn có tính hiền lành, nhưng nghiêm khắc trong từng thời khoá, oai nghi tế hạnh đi đứng phải hết sức chuẩn mực, nên chúng con học được những bài học oai nghi, tán tụng Ôn tán rất hay, giỏi về thơ Phú, thích ẩn mình trong chốn tịch thiền và vui với trà đạo.
Thửa ấy, chúng con từng hầu chuyện, Ôn dạy rằng:
“ Tâm Hỷ, nhớ giữ gìn gốc Phật, ấy là mốt diền cho rường cột, vì xuất gia hay tại gia, cũng giữ gìn Tam quy và ngũ giới, như thuyền bè vượt biển mê, như người xây nhà có móng vững chắc…!”
“Tâm Hỷ là do Tôn sư của Ôn trao, nên dù ở đâu, Tâm hỷ cũng nhớ giữ gìn cõi tâm Bồ đề này tươi sáng….”

Ôn dạy tiếp:
“ Sau này con sẻ là vị xuất gia, nên Ôn cho con bài này, nhớ kỷ và tinh tấn tu học..”
Rồi Ôn đọc:
“ Tâm An trú hành Phật
Hỷ sự pháp Tăng trao.
Ung dung nguồn ngộ lý.
Thiền mật tịnh bay cao.”

Rồi kể từ đó, chúng con được quay về lối đạo, khi thọ xong giới sa di, lên thăm Ôn thì Ôn hay thoa đầu, và thực hành pháp mà Ôn dạy khi còn là Tiểu Cư sĩ Tâm Hỷ.

Thời gian qua mau, Ôn đã thị hiện an trú trong quy trình sanh già bệnh chết, mà lý vô thường thường trao cho tất cả vạn vật trong cõi nam diêm phù đề, nên chúng con tin chắc Ôn an trú trong bậc Thiền Tăng, đã dung thông nơi cõi tịnh.

Chúng con ở xa, vọng bái giác linh Ôn, sanh cảnh tịnh Phật Quốc độ, an trú hầu bậc Tôn sư…!
Tang Lễ Cố Hòa Thượng Thích Hải Thịnh được tổ chức theo di nguyện. Tổ chức giản tiện, đơn giản, không viếng tang.
Nghi thức nhập quan đã diễn ra vào lúc 16 giờ 00 ngày 31/3/2023 (mùng 10 tháng 2 (Nhuận) năm Quý Mão).
Kim Quan cố Hòa Thượng được tôn trí tại Linh Mụ Quốc Tự cố đô Huế đến ngày 13 tháng 2 (nhuận). Tang lễ diễn ra theo nghi thức Tâm Tang .
Bình sinh cố Hòa Thượng là vị tôn túc giản dị từ hoà, sống đời sống ẩn dật, mật hạnh. Ngài giữ nếp cương trực, khí tiết, trung thành với Hòa Thượng

Bổn Sư nhất mực.
Ngài là đệ tử cố Đại Lão Hòa Thượng Đệ tam Tăng thống thượng Đôn hạ Hậu.
Tân Thuận Tịch Hòa Thượng Thích Hải Thịnh (1964-2023).
Nam Mô Lâm Tế Chánh Tôn, Tứ Thập Tam Thế, Linh Mụ Quốc Tự Tri Sự, huý thượng Tâm hạ Quang hiệu Hải Thịnh Tân Viên Tịch Hoà Thượng Giác Linh!


Hà Nội ngày, 11-02 nhuận - Quý Mão.
Tk: Thích Minh Thế
Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26/04/2012(Xem: 24413)
Mùa Phật Đản 1963, có máu, lửa, nước mắt và xương thịt của vô số người con Phật ngã xuống. Nhưng từ trong đó lại bùng lên ngọn lửa Bi Hùng Lực của Bồ Tát Thích Quảng Đức
20/04/2012(Xem: 13093)
Hòa thượng Thích Thiên Ân, thế danh Đoàn Văn An, sinh ngày 22 tháng 9 năm Ất Sửu 1925, tại làng An Truyền, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ của Ngài là Đoàn Mễ, sau xuất gia là Thượng tọa Thích Tiêu Diêu một bậc tử đạo Vị pháp thiêu thân, thân mẫu là một tín nữ chuyên lo công quả ở chùa Báo Quốc và tu viện Quảng Hương Già Lam, Ngài là con trai thứ trong một gia đình có 4 anh em. Ngài xuất thân trong một gia đình thế gia vọng tộc, có truyền thống kính tin Phật pháp lâu đời. Nhờ duyên gần gũi Tam bảo từ thuở nhỏ, Ngài đã sớm mến cảnh thiền môn với tiếng kệ câu kinh, nên năm lên 10 tuổi (1935), Ngài theo bước phụ thân xin xuất gia đầu Phật tại chùa Báo Quốc, làm đệ tử của Hòa thượng Phước Hậu, được Bổn sư ban pháp danh là Thiên Ân, Ngài tinh tấn chấp tác, học tập thiền môn qui tắc, hầu cận sư trưởng. Năm Tân Tỵ 1941, khi được 16 tuổi, Ngài được Bổn sư cho thọ giới Sa di tại giới đàn chùa Quốc Ân – Huế, do Hòa thượng Đắc Quang làm Đường đầu truyền giới.
08/04/2012(Xem: 8548)
Hòa thượng thế danh Đoàn Thảo, sinh ngày 10 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1909), niên hiệu Duy Tân năm thứ 3 trong một gia đình nhiều đời theo Phật tại xứ Đồng Nà, tổng Phú Triêm Hạ, xã Thanh Hà, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (Nay là thôn Đồng Nà, xã Cẩm Hà, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam). Thân phụ là cụ ông Đoàn Văn Nhơn pháp danh Chơn Quang, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Có. Gia đình Ngài gần chùa Vạn Đức, lại thêm cụ thân sinh là tín đồ thuần thành của chùa, nên từ thuở nhỏ, Ngài thường theo cha đến chùa hàng đêm tụng kinh niệm Phật. Từ đó, chủng tử Bồ Đề lớn dần trong tâm và Ngài tỏ ra những biểu hiện rất có căn duyên với cửa Không môn của nhà Phật.
31/03/2012(Xem: 9487)
Hòa thượng thế danh Dương Đức Thanh, tự Liễu, pháp danh Như Nhàn, tự Giải Lạc, hiệu Trí Giác, nối pháp đời thứ 41 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh. Ngài sinh năm Ất Mão (1915) tại làng Cẩm Văn, huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình nhiều đời kính tín Tam Bảo. Thân phụ là cụ ông Dương Đức Giới pháp danh Chương Đồ, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Phụng pháp danh Chơn Loan. Năm lên 3 tuổi, thân phụ Ngài qua đời, thân mẫu tảo tần nuôi con và cho Ngài theo học chữ Nho với các cụ đồ trong làng, được 5 năm mới chuyển sang học Việt văn.
23/03/2012(Xem: 8708)
Đức Đại Lão Hòa Thượng Chánh Thư Ký Xử Lý Viện Tăng Thống GHPGVNTN là thế hệ thứ 8 của phái Thiền Thiệt Diệu Liễu Quán, Pháp danh Trừng Nguyên, Hiệu Đôn Hậu. Xuất gia và thọ cụ túc với Hòa Thượng Bổn sư là Tổ Tâm Tịnh, khai sơn chùa Tây Thiên Huế, sau các Pháp huynh là quý Hòa Thượng Giác Nguyên, Giác Viên, Giác Tiên, Giác Nhiên...
21/03/2012(Xem: 9056)
Hòa Thượng Thích Trí Thủ là vị Thầy của nhiều thế hệ học tăng của các Phật học viện Báo Quốc Huế, Phổ Đà - Đà Nẵng, Hải Đức - Nha Trang, Quảng Hương Già Lam - Sài Gòn. Cuộc đời của Ngài phần nhiều cống hiến cho việc đào tạo tăng tài và sự nghiệp hoằng pháp cho Đạo Phật Việt Nam hơn là những lãnh vực phật sự khác.
10/03/2012(Xem: 10075)
Hòa thượng thế danh Dương Văn Y, sinh ngày 23 tháng Chạp năm Tân Tị (1881), nhằm vào năm thứ 33 đời vua Tự Đức triều Nguyễn tại xã Bình An, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Do túc duyên nhiều đời nên Ngài sinh vào gia đình chánh tín Tam Bảo. Thân phụ là Cụ ông Dương Thi An, pháp danh Chương Thái, hiệu Quảng Liên và Thân mẫu là Cụ bà Đỗ Thị Toại. Tuổi đồng ấu, Hòa thượng có tướng mạo rất đoan nghiêm, thông minh khác chúng. Lên 10 tuổi, Ngài có ý định xuất gia nên song thân đưa Ngài đến chùa Hội Phước tại xã Thanh Chiêm, huyện Điện Bàn, Quảng Nam để tu học với Hòa thượng Như Lý-Hoằng Khâm.
10/03/2012(Xem: 9817)
Thời gian trôi nhanh như bóng câu qua cửa sổ! Mới hôm nào mà Hòathượng Thích Trí Thủ đã tiễn chân tôi ra sân bay đi Hà Nội để giảng cho trường Cao cấp Phật học tại chùa QuánSứ, mà bây giờ đã gần đến ngày giỗ đầu của Hòa Thượng.
09/03/2012(Xem: 24479)
Tăng bảo, nương vào phần tự giác của pháp làm cơ sở để kiến lập xã hội hòa bình, nhân gian Tịnh độ... Thích Đồng Bổn
02/03/2012(Xem: 7895)
Hòa thượng thế danh Trần Văn Chín, sinh năm Canh Ngọ (1930) tại làng Ái Nghĩa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Thân phụ là cụ ông Trần Văn Hoàng pháp danh Chơn Tấn và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Chung (khi Ngài viên tịch thì song thân vẫn còn tại thế). Sinh ra trong một gia đình có truyền thống Phật giáo nên Ngài sớm có ý chí thoát tục tu đạo. Lúc lên 12 tuổi, Ngài đến chùa Phổ Khánh trong làng và tỏ ra quyến luyến không muốn về. Nhưng vì là con trai duy nhất trong gia đình nên Ngài phải trở về nhà lo bổn phận môn đăng định tỉnh.