Ngài Hải Thịnh Quy Tây

01/04/202315:37(Xem: 3778)
Ngài Hải Thịnh Quy Tây



ht hai thinh (3)


Ngài Hải Thịnh Quy Tây.

Huế lưu ảnh, dòng Hương Giang thơ mộng.
Vọng chuông ngân, chùa Thiêng Mụ Thơm trong.
Thơm mùi đạo, áo tràng lam trượng thất.
Mõ nhịp đều, sương mờ ảnh sắc không.


Mây phủ kính, dòng tâm tang tiễn góc.
Dấu phong Trần, năm ấm vội tang thông.
Mượn huyễn thân, khoác lên áo nâu sòng.
Tu tinh tấn, tâm Phật ngộ bên trong.


Sáu mươi năm, rừng thiền nương bóng Nguyệt.
Hầu Tôn sư, giữ giới định nghiêm mình.
Lo Phật sự, với vai trò Tri sự.
Dạy đồ Tôn, biết giữ gìn lời kinh.


Phòng phương trượng, gậy thiền sư trấn tích.
Chuổi lần tràng, nhất tâm niệm Nam Mô.
Vui trà tịnh, an trú tâm cõi Phật.
Chiếc guốc mộc, dựng cửa thất thiền thơ.


Giới nghiêm Lạp, tháng ngày kinh mõ tuệ,
Ngộ Pháp hoa, trì niệm chẳng thời quên.
Đàn Cụ Túc, trao hiệu Thích Hải Thịnh.
Mãi Tôn thờ, hình Phật ảnh nhân duyên.


Bóng triền non, ẩn mình trong trượng phủ,
Phiến đá thời, ngộ pháp học thiền sư.
Vui tầm đạo, phù Vân mây chẳng bận.
Tịnh tọa đài, bóng phủ kiếp chân tu.

Không huyễn tướng, mượn thời kinh nghiêm mật.
Sắc Huyền không, lão tử chớ sanh nghi,
Bừng tĩnh ngộ, vô thường trong hơi thở.
Trả mộng đời, niệm Phật bước ra đi.


Xin bái biệt, bậc thiền sư an trú.
Niết bàn xưa, khai ngộ tính pháp vương.
Xin bái biệt, bậc an hành thiền giả.
Quốc độ hành, Tịnh độ cảnh Trung ương.


Xin bái biệt, bậc Thiền Tăng ẩn sĩ,
Giới nghiêm hành, sống phạm hạnh trung tôn.
Ngài Hải Thịnh, xin giã từ tứ chúng.
Vọng liên Thuỳ, Tâm Quang trú hương thơm.



ht hai thinh (6)


ht hai thinh (4)
ht hai thinh (5)


ht hai thinh (2)

ht hai thinh (1)

Nhớ Ký ức Xưa:

Sinh thời, chúng con là một tiểu oanh vũ gia đình Phật tử khuôn hội Phật giáo Xuân An, chúng con thường xuyên hay lui tới chùa Thiên Mụ, đảnh lễ và tham quan nghiêm cứu dòng lịch sử chùa, nên chúng con từng được tham vấn Ôn trong thời gian 1990-1997.
Ôn có tính hiền lành, nhưng nghiêm khắc trong từng thời khoá, oai nghi tế hạnh đi đứng phải hết sức chuẩn mực, nên chúng con học được những bài học oai nghi, tán tụng Ôn tán rất hay, giỏi về thơ Phú, thích ẩn mình trong chốn tịch thiền và vui với trà đạo.
Thửa ấy, chúng con từng hầu chuyện, Ôn dạy rằng:
“ Tâm Hỷ, nhớ giữ gìn gốc Phật, ấy là mốt diền cho rường cột, vì xuất gia hay tại gia, cũng giữ gìn Tam quy và ngũ giới, như thuyền bè vượt biển mê, như người xây nhà có móng vững chắc…!”
“Tâm Hỷ là do Tôn sư của Ôn trao, nên dù ở đâu, Tâm hỷ cũng nhớ giữ gìn cõi tâm Bồ đề này tươi sáng….”

Ôn dạy tiếp:
“ Sau này con sẻ là vị xuất gia, nên Ôn cho con bài này, nhớ kỷ và tinh tấn tu học..”
Rồi Ôn đọc:
“ Tâm An trú hành Phật
Hỷ sự pháp Tăng trao.
Ung dung nguồn ngộ lý.
Thiền mật tịnh bay cao.”

Rồi kể từ đó, chúng con được quay về lối đạo, khi thọ xong giới sa di, lên thăm Ôn thì Ôn hay thoa đầu, và thực hành pháp mà Ôn dạy khi còn là Tiểu Cư sĩ Tâm Hỷ.

Thời gian qua mau, Ôn đã thị hiện an trú trong quy trình sanh già bệnh chết, mà lý vô thường thường trao cho tất cả vạn vật trong cõi nam diêm phù đề, nên chúng con tin chắc Ôn an trú trong bậc Thiền Tăng, đã dung thông nơi cõi tịnh.

Chúng con ở xa, vọng bái giác linh Ôn, sanh cảnh tịnh Phật Quốc độ, an trú hầu bậc Tôn sư…!
Tang Lễ Cố Hòa Thượng Thích Hải Thịnh được tổ chức theo di nguyện. Tổ chức giản tiện, đơn giản, không viếng tang.
Nghi thức nhập quan đã diễn ra vào lúc 16 giờ 00 ngày 31/3/2023 (mùng 10 tháng 2 (Nhuận) năm Quý Mão).
Kim Quan cố Hòa Thượng được tôn trí tại Linh Mụ Quốc Tự cố đô Huế đến ngày 13 tháng 2 (nhuận). Tang lễ diễn ra theo nghi thức Tâm Tang .
Bình sinh cố Hòa Thượng là vị tôn túc giản dị từ hoà, sống đời sống ẩn dật, mật hạnh. Ngài giữ nếp cương trực, khí tiết, trung thành với Hòa Thượng

Bổn Sư nhất mực.
Ngài là đệ tử cố Đại Lão Hòa Thượng Đệ tam Tăng thống thượng Đôn hạ Hậu.
Tân Thuận Tịch Hòa Thượng Thích Hải Thịnh (1964-2023).
Nam Mô Lâm Tế Chánh Tôn, Tứ Thập Tam Thế, Linh Mụ Quốc Tự Tri Sự, huý thượng Tâm hạ Quang hiệu Hải Thịnh Tân Viên Tịch Hoà Thượng Giác Linh!


Hà Nội ngày, 11-02 nhuận - Quý Mão.
Tk: Thích Minh Thế
Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/06/2012(Xem: 25277)
Kính lạy tôn dung Ngài Con xin tìm lại dấu xưa 39 năm, hai thế kỷ sao vừa Nín thở, lặng yên, đọc từng con chữ
12/06/2012(Xem: 8598)
Hòa thượng họ Đỗ, huý Châu Lân, sinh năm 1927 (Đinh Mão) tại thôn Quan Quang, xã Nhơn Khánh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Đỗ Hoạch, và thân mẫu là cụ bà Trần Thị Tú. Gia đình gồm năm người con, hai trai và ba gái; Hòa thượng Thích Đỗng Quán thứ ba, và Ngài là thứ tư. Gia đình Ngài đời đời thuần tín Tam bảo. Cha mất sớm, được mẹ chăm lo dạy dỗ. Với bẩm tánh thông minh và hiếu học, năm 11 tuổi Ngài thi đậu bằng Yếu lược. Việc này chưa xảy ra ở vùng quê của Ngài nên đích thân ông Lý trưởng đến thăm và chúc mừng. Đó là một vinh dự cho gia đình và quê hương Ngài lúc bấy giờ.
11/06/2012(Xem: 9863)
Sự nghiệp thiền sư Tăng Hội rất lớn lao. Nhờ vào những trước tác của Thầy mà ta biết được hành tướng của sự thực tập thiền tại trung tâm Luy Lâu Việt Nam và tại trung tâm Kiến Nghiệp Trung Quốc ngày xưa. Tư tưởng thiền của thầy Tăng Hội là tư tưởng thiền Đại Thừa, đi tiên phong cho cả tư tưởng Hoa Nghiêm và Duy Thức Bao giờ các chùa Việt Nam sẽ thờ tổ Khương Tăng Hội Hiện nay chúng ta đang ở thế kỷ XXI với nền văn minh rực rỡ, với nhiều thiết bị hiện đại, với mức sống rất cao, với vốn hiểu biết rất thien su khuong tang hoi.jpg
10/06/2012(Xem: 18302)
Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Chơn, thế danh Trương Xuân Bình, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1933 (Quý Dậu) tại Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, Việt Nam, là con thứ sáu trong một gia đình mười hai anh chị em. Thân sinh của Cố Trưởng Lão Hoà Thượng là cụ Trương Xuân Quảng, mất năm 1945, nguyên quán làng Kim Thành, quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, làm quan dưới thời Pháp thuộc, được bổ nhậm chức Kiểm Học (tương đương với Trưởng Ty Nha Học Chánh dưới thời các chính phủ quốc gia sau này) tỉnh Bình Thuận năm 1933 – 1939, và Đốc Học tỉnh Quảng Ngãi năm 1940 – 1945. Nhờ túc duyên với Phật Pháp, nên đến năm 1950, Cố Trưởng Lão Hoà Thượng đến Chù
06/06/2012(Xem: 18045)
Hòa thượng Thích Quảng Đức, Pháp danh Thị Thủy, Pháp tự Hành Pháp và thế danh là Lâm văn Tức, sinh năm 1897 tại làng Hội Khánh, quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa...
30/05/2012(Xem: 11156)
Tín Nghĩa tôi đến định cư Hoa Kỳ vào ngày 19 tháng 09 năm 1979, do nhị vị Hòa thượng Thích Thiên Ân và Hòa thượng Thích Mãn Giác bảo lãnh từ trại tỵ nạn Hongkong. Ngồi tính sổ thời gian thì cũng đã gỡ gần ba chục cuốn lịch. Giá như thời gian này mà ở trong tù thì cũng mục xương và chẳng bao giờ được thấy ánh sáng của thiên nhiên.
27/05/2012(Xem: 25164)
Tác phẩm Trí Quang Tự Truyện bản pdf và bài viết "Đọc “Trí Quang Tự Truyện” của Thầy Thích Trí Quang" của Trần Bình Nam
15/05/2012(Xem: 9065)
Trong đạo lập thân của người xưa – lập công, lập đức, lập ngôn– thì lập ngôn thường được cho là quan trọng nhất, vì đó là phần “hình nhi thượng”, là tinh hoa tư tưởng cá biệt của một dòng đời mang tính truyền thừa lâu dài và sâu xa cho hậu thế. Người đem hết năng lực tinh thần và tri thức của đời mình để lập ngôn thì thành nhà tư tưởng, triết gia. Người đem chất liệu đời mình để viết lại thì thành tác giả tự truyện, hồi ký.
09/05/2012(Xem: 12399)
Sự xuất hiện của Tổ sư Liễu Quán (1667-1742) như là một Bồ tát bổ xứ, thực hiện sứ mệnh lịch sử: Không chỉ duy trì và phát triển mạch sống Phật giáo Việt Nam giữa bối cảnh xã hội tối tăm, Phật pháp suy đồi mà còn thể hiện sự xả thân vì đạo; lập thảo am, ăn rong, uống nước suối, hơn mười năm tham cứu công án, tu hành đắc đạo.
28/04/2012(Xem: 9227)
Nhà văn cư sĩ Huỳnh Trung Chánh, còn có bút hiệu Hư Thân, sanh năm 1939 tại Trà Vinh, quê nội của ông. Suốt quảng đời niên thiếu ông sống nơi quê ngoại tại Cao Lãnh, tỉnh Sa-Đéc, Nam Việt Nam. - Tốt nghiệp Cử nhân Luật Khoa( 1961 ), Đại Học Luật Khoa Saigon. - Tốt nghiệp Cử nhân Phật Học (1967), Phân Khoa Phật Học và Triết Học Đông Phương, Viện Đại Học Vạn Hạnh, Saigon. Là một công chức dưới thời Việt Nam Cộng Hoà, ông đã nổi tiếng thanh liêm, chánh trực và hết lòng dấn thân để phục vụ đại đa số dân chúng Việt Nam theo hạnh Bồ Tát của Phật giáo. Ông đã từng giữ các chức vụ sau đây: - Lục sự tại Toà Án Saigon và Long An (1960 – 1962). - Chuyên viên nghiên cứu tại Phủ Tổng Thống (1962 – 1964). - Thanh Tra Lao Động tại Bộ Lao Động (1964 – 1965). - Dự Thẩm tại Toà Sơ Thẩm An Giang (1965 - 1966). - Chánh Án tại Toà Sơ Thẩm Kiên Giang (1966 – 1969) và Toà Án Long An (1969 – 1971). - Dân Biểu Quốc Hội VNCH tại Thị Xả Rạch Giá (1