Ngài Hải Thịnh Quy Tây

01/04/202315:37(Xem: 3767)
Ngài Hải Thịnh Quy Tây



ht hai thinh (3)


Ngài Hải Thịnh Quy Tây.

Huế lưu ảnh, dòng Hương Giang thơ mộng.
Vọng chuông ngân, chùa Thiêng Mụ Thơm trong.
Thơm mùi đạo, áo tràng lam trượng thất.
Mõ nhịp đều, sương mờ ảnh sắc không.


Mây phủ kính, dòng tâm tang tiễn góc.
Dấu phong Trần, năm ấm vội tang thông.
Mượn huyễn thân, khoác lên áo nâu sòng.
Tu tinh tấn, tâm Phật ngộ bên trong.


Sáu mươi năm, rừng thiền nương bóng Nguyệt.
Hầu Tôn sư, giữ giới định nghiêm mình.
Lo Phật sự, với vai trò Tri sự.
Dạy đồ Tôn, biết giữ gìn lời kinh.


Phòng phương trượng, gậy thiền sư trấn tích.
Chuổi lần tràng, nhất tâm niệm Nam Mô.
Vui trà tịnh, an trú tâm cõi Phật.
Chiếc guốc mộc, dựng cửa thất thiền thơ.


Giới nghiêm Lạp, tháng ngày kinh mõ tuệ,
Ngộ Pháp hoa, trì niệm chẳng thời quên.
Đàn Cụ Túc, trao hiệu Thích Hải Thịnh.
Mãi Tôn thờ, hình Phật ảnh nhân duyên.


Bóng triền non, ẩn mình trong trượng phủ,
Phiến đá thời, ngộ pháp học thiền sư.
Vui tầm đạo, phù Vân mây chẳng bận.
Tịnh tọa đài, bóng phủ kiếp chân tu.

Không huyễn tướng, mượn thời kinh nghiêm mật.
Sắc Huyền không, lão tử chớ sanh nghi,
Bừng tĩnh ngộ, vô thường trong hơi thở.
Trả mộng đời, niệm Phật bước ra đi.


Xin bái biệt, bậc thiền sư an trú.
Niết bàn xưa, khai ngộ tính pháp vương.
Xin bái biệt, bậc an hành thiền giả.
Quốc độ hành, Tịnh độ cảnh Trung ương.


Xin bái biệt, bậc Thiền Tăng ẩn sĩ,
Giới nghiêm hành, sống phạm hạnh trung tôn.
Ngài Hải Thịnh, xin giã từ tứ chúng.
Vọng liên Thuỳ, Tâm Quang trú hương thơm.



ht hai thinh (6)


ht hai thinh (4)
ht hai thinh (5)


ht hai thinh (2)

ht hai thinh (1)

Nhớ Ký ức Xưa:

Sinh thời, chúng con là một tiểu oanh vũ gia đình Phật tử khuôn hội Phật giáo Xuân An, chúng con thường xuyên hay lui tới chùa Thiên Mụ, đảnh lễ và tham quan nghiêm cứu dòng lịch sử chùa, nên chúng con từng được tham vấn Ôn trong thời gian 1990-1997.
Ôn có tính hiền lành, nhưng nghiêm khắc trong từng thời khoá, oai nghi tế hạnh đi đứng phải hết sức chuẩn mực, nên chúng con học được những bài học oai nghi, tán tụng Ôn tán rất hay, giỏi về thơ Phú, thích ẩn mình trong chốn tịch thiền và vui với trà đạo.
Thửa ấy, chúng con từng hầu chuyện, Ôn dạy rằng:
“ Tâm Hỷ, nhớ giữ gìn gốc Phật, ấy là mốt diền cho rường cột, vì xuất gia hay tại gia, cũng giữ gìn Tam quy và ngũ giới, như thuyền bè vượt biển mê, như người xây nhà có móng vững chắc…!”
“Tâm Hỷ là do Tôn sư của Ôn trao, nên dù ở đâu, Tâm hỷ cũng nhớ giữ gìn cõi tâm Bồ đề này tươi sáng….”

Ôn dạy tiếp:
“ Sau này con sẻ là vị xuất gia, nên Ôn cho con bài này, nhớ kỷ và tinh tấn tu học..”
Rồi Ôn đọc:
“ Tâm An trú hành Phật
Hỷ sự pháp Tăng trao.
Ung dung nguồn ngộ lý.
Thiền mật tịnh bay cao.”

Rồi kể từ đó, chúng con được quay về lối đạo, khi thọ xong giới sa di, lên thăm Ôn thì Ôn hay thoa đầu, và thực hành pháp mà Ôn dạy khi còn là Tiểu Cư sĩ Tâm Hỷ.

Thời gian qua mau, Ôn đã thị hiện an trú trong quy trình sanh già bệnh chết, mà lý vô thường thường trao cho tất cả vạn vật trong cõi nam diêm phù đề, nên chúng con tin chắc Ôn an trú trong bậc Thiền Tăng, đã dung thông nơi cõi tịnh.

Chúng con ở xa, vọng bái giác linh Ôn, sanh cảnh tịnh Phật Quốc độ, an trú hầu bậc Tôn sư…!
Tang Lễ Cố Hòa Thượng Thích Hải Thịnh được tổ chức theo di nguyện. Tổ chức giản tiện, đơn giản, không viếng tang.
Nghi thức nhập quan đã diễn ra vào lúc 16 giờ 00 ngày 31/3/2023 (mùng 10 tháng 2 (Nhuận) năm Quý Mão).
Kim Quan cố Hòa Thượng được tôn trí tại Linh Mụ Quốc Tự cố đô Huế đến ngày 13 tháng 2 (nhuận). Tang lễ diễn ra theo nghi thức Tâm Tang .
Bình sinh cố Hòa Thượng là vị tôn túc giản dị từ hoà, sống đời sống ẩn dật, mật hạnh. Ngài giữ nếp cương trực, khí tiết, trung thành với Hòa Thượng

Bổn Sư nhất mực.
Ngài là đệ tử cố Đại Lão Hòa Thượng Đệ tam Tăng thống thượng Đôn hạ Hậu.
Tân Thuận Tịch Hòa Thượng Thích Hải Thịnh (1964-2023).
Nam Mô Lâm Tế Chánh Tôn, Tứ Thập Tam Thế, Linh Mụ Quốc Tự Tri Sự, huý thượng Tâm hạ Quang hiệu Hải Thịnh Tân Viên Tịch Hoà Thượng Giác Linh!


Hà Nội ngày, 11-02 nhuận - Quý Mão.
Tk: Thích Minh Thế
Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10913)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 13564)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8853)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.
09/04/2013(Xem: 14925)
Hòa thượng pháp hiệu Thích-Thiện-Hòa, thế danh Hứa-Khắc-Lợi sanh năm 1907 tại làng Tân-Nhựt Chợ Lớn. Ngài sinh trong gia đình trung lưu phúc hậu, thân phụ là Hứa-hắc-Tài, thân mẫu là Nguyễn-Thị-Giáp. Gia đình cả thảy bảy anh em : ba nam, bốn nữ, Ngài là người thứ bảy. Vì người thứ tám mất sớm nên Ngài được coi là con út.
09/04/2013(Xem: 8580)
Hòa thượng pháp danh Trí Độ, hiệu Hồng Chân, thế danh Lê Kim Ba, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1894 tại thôn Phổ Trạch, xã Kỳ Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Sinh ra trong một gia đình Nho học, lúc thiếu thời Ngài học chữ Nho và năm 18 tuổi học trường Sư phạm. Vì thế mà sở học rất uyên thâm, thêm lòng mến mộ đạo Phật, Ngài đi sâu vào nghiên cứu giáo lý và trở thành một vị học Phật lỗi lạc.
09/04/2013(Xem: 9036)
Hòa Thượng pháp danh Thích Tâm Thi, đạo hiệu Tuệ Tạng, thế danh Trần Thanh Thuyên, sinh năm Canh Dần (1889) tại làng Quần Phương Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Thân phụ Ngài là ông Trần Tín tự Phúc Châu, thân mẫu là bà Vũ Thị Tú hiệu Diệu Hòa.
09/04/2013(Xem: 10236)
Hòa thượng Hộ Tông (1893-1981), Maha Thera Vansarakkhita, có thế danh là Lê Văn Giảng, sinhngày 15 tháng 10 năm 1893, tại làng Tân An, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Ngài xuất thân trongmột gia đình trung lưu trí thức, thân phụ là ông Lê Văn Như, thân mẫu là bà Đinh Thị Giêng.
09/04/2013(Xem: 8981)
Hòa Thượng họ Nguyễn, Húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, pháp hiệu Thích Trí Thủ. Ngày sinh ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Dậu, tức ngày 01-11-1909 trong một gia đình nho phong thanh bạch, tại làng Trung Kiên, tổng Bích Xa, phủ Triệu Phong (nay là xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là cụ Nguyễn Hưng Nghĩa, thân mẫu là cụ Lê Thị Chiếu. Hai cụ là người rất kính tín Tam Bảo. Vì vậy, dù là con trai độc nhất trong gia đình, lúc 14 tuổi Ngài đã được song thân cho vào học kinh kệ ở chùa Hải Đức Huế.
09/04/2013(Xem: 15142)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái.
09/04/2013(Xem: 11834)
Hòa thượng húy Trần Thiện Hoa, pháp danh Thiện Hoa, hiệu Hoàn Tuyên, sanh ngày 7-8 năm Mậu Ngọ (1918), tại làng Tân Quy (sau đổi tên là An Phú Tân), quận Cầu Kè, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Trà Vinh). Hòa thượng là con út (thứ chín) trong gia đình. Thân phụ Hòa thượng huý Trần Văn Thê, pháp danh Thiện Huệ, thân mẫu húy Nguyễn Thị Sáu, pháp danh Diệu Tịnh. Toàn thể gia đình Hòa thượng đều quy y với tổ Chí Thiền chùa Phi Lai núi Voi, Châu Đốc. Pháp danh Thiện Hoa do Tổ đặt cho Hòa thượng.