Ngài Hải Thịnh Quy Tây

01/04/202315:37(Xem: 3756)
Ngài Hải Thịnh Quy Tây



ht hai thinh (3)


Ngài Hải Thịnh Quy Tây.

Huế lưu ảnh, dòng Hương Giang thơ mộng.
Vọng chuông ngân, chùa Thiêng Mụ Thơm trong.
Thơm mùi đạo, áo tràng lam trượng thất.
Mõ nhịp đều, sương mờ ảnh sắc không.


Mây phủ kính, dòng tâm tang tiễn góc.
Dấu phong Trần, năm ấm vội tang thông.
Mượn huyễn thân, khoác lên áo nâu sòng.
Tu tinh tấn, tâm Phật ngộ bên trong.


Sáu mươi năm, rừng thiền nương bóng Nguyệt.
Hầu Tôn sư, giữ giới định nghiêm mình.
Lo Phật sự, với vai trò Tri sự.
Dạy đồ Tôn, biết giữ gìn lời kinh.


Phòng phương trượng, gậy thiền sư trấn tích.
Chuổi lần tràng, nhất tâm niệm Nam Mô.
Vui trà tịnh, an trú tâm cõi Phật.
Chiếc guốc mộc, dựng cửa thất thiền thơ.


Giới nghiêm Lạp, tháng ngày kinh mõ tuệ,
Ngộ Pháp hoa, trì niệm chẳng thời quên.
Đàn Cụ Túc, trao hiệu Thích Hải Thịnh.
Mãi Tôn thờ, hình Phật ảnh nhân duyên.


Bóng triền non, ẩn mình trong trượng phủ,
Phiến đá thời, ngộ pháp học thiền sư.
Vui tầm đạo, phù Vân mây chẳng bận.
Tịnh tọa đài, bóng phủ kiếp chân tu.

Không huyễn tướng, mượn thời kinh nghiêm mật.
Sắc Huyền không, lão tử chớ sanh nghi,
Bừng tĩnh ngộ, vô thường trong hơi thở.
Trả mộng đời, niệm Phật bước ra đi.


Xin bái biệt, bậc thiền sư an trú.
Niết bàn xưa, khai ngộ tính pháp vương.
Xin bái biệt, bậc an hành thiền giả.
Quốc độ hành, Tịnh độ cảnh Trung ương.


Xin bái biệt, bậc Thiền Tăng ẩn sĩ,
Giới nghiêm hành, sống phạm hạnh trung tôn.
Ngài Hải Thịnh, xin giã từ tứ chúng.
Vọng liên Thuỳ, Tâm Quang trú hương thơm.



ht hai thinh (6)


ht hai thinh (4)
ht hai thinh (5)


ht hai thinh (2)

ht hai thinh (1)

Nhớ Ký ức Xưa:

Sinh thời, chúng con là một tiểu oanh vũ gia đình Phật tử khuôn hội Phật giáo Xuân An, chúng con thường xuyên hay lui tới chùa Thiên Mụ, đảnh lễ và tham quan nghiêm cứu dòng lịch sử chùa, nên chúng con từng được tham vấn Ôn trong thời gian 1990-1997.
Ôn có tính hiền lành, nhưng nghiêm khắc trong từng thời khoá, oai nghi tế hạnh đi đứng phải hết sức chuẩn mực, nên chúng con học được những bài học oai nghi, tán tụng Ôn tán rất hay, giỏi về thơ Phú, thích ẩn mình trong chốn tịch thiền và vui với trà đạo.
Thửa ấy, chúng con từng hầu chuyện, Ôn dạy rằng:
“ Tâm Hỷ, nhớ giữ gìn gốc Phật, ấy là mốt diền cho rường cột, vì xuất gia hay tại gia, cũng giữ gìn Tam quy và ngũ giới, như thuyền bè vượt biển mê, như người xây nhà có móng vững chắc…!”
“Tâm Hỷ là do Tôn sư của Ôn trao, nên dù ở đâu, Tâm hỷ cũng nhớ giữ gìn cõi tâm Bồ đề này tươi sáng….”

Ôn dạy tiếp:
“ Sau này con sẻ là vị xuất gia, nên Ôn cho con bài này, nhớ kỷ và tinh tấn tu học..”
Rồi Ôn đọc:
“ Tâm An trú hành Phật
Hỷ sự pháp Tăng trao.
Ung dung nguồn ngộ lý.
Thiền mật tịnh bay cao.”

Rồi kể từ đó, chúng con được quay về lối đạo, khi thọ xong giới sa di, lên thăm Ôn thì Ôn hay thoa đầu, và thực hành pháp mà Ôn dạy khi còn là Tiểu Cư sĩ Tâm Hỷ.

Thời gian qua mau, Ôn đã thị hiện an trú trong quy trình sanh già bệnh chết, mà lý vô thường thường trao cho tất cả vạn vật trong cõi nam diêm phù đề, nên chúng con tin chắc Ôn an trú trong bậc Thiền Tăng, đã dung thông nơi cõi tịnh.

Chúng con ở xa, vọng bái giác linh Ôn, sanh cảnh tịnh Phật Quốc độ, an trú hầu bậc Tôn sư…!
Tang Lễ Cố Hòa Thượng Thích Hải Thịnh được tổ chức theo di nguyện. Tổ chức giản tiện, đơn giản, không viếng tang.
Nghi thức nhập quan đã diễn ra vào lúc 16 giờ 00 ngày 31/3/2023 (mùng 10 tháng 2 (Nhuận) năm Quý Mão).
Kim Quan cố Hòa Thượng được tôn trí tại Linh Mụ Quốc Tự cố đô Huế đến ngày 13 tháng 2 (nhuận). Tang lễ diễn ra theo nghi thức Tâm Tang .
Bình sinh cố Hòa Thượng là vị tôn túc giản dị từ hoà, sống đời sống ẩn dật, mật hạnh. Ngài giữ nếp cương trực, khí tiết, trung thành với Hòa Thượng

Bổn Sư nhất mực.
Ngài là đệ tử cố Đại Lão Hòa Thượng Đệ tam Tăng thống thượng Đôn hạ Hậu.
Tân Thuận Tịch Hòa Thượng Thích Hải Thịnh (1964-2023).
Nam Mô Lâm Tế Chánh Tôn, Tứ Thập Tam Thế, Linh Mụ Quốc Tự Tri Sự, huý thượng Tâm hạ Quang hiệu Hải Thịnh Tân Viên Tịch Hoà Thượng Giác Linh!


Hà Nội ngày, 11-02 nhuận - Quý Mão.
Tk: Thích Minh Thế
Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 9524)
Sư người làng Vạn Tải, lộ Bắc Giang. Thỉ Tổ của Sư là Lý Ôn Hòa, làm quan Hành khiển dưới triều Lý Thần Tông (1128 - 1138). Trải nhiều đời, đến Tổ phụ là Tuệ Tổ, có công đánh giặc Chiêm Thành, nhưng không không chịu ra làm quan, chỉ thích những chuyện hay, sách lạ, và vui thú ruộng vườn. Mẹ Sư là Lê Thị, vốn người hiền đức, bản tính nhân từ, năm 30 tuổi vẫn chưa có con trai. Nhân gặp lúc có bệnh dịch hoành hành, bà đi hái thuốc trên núi Chu Sơn, dừng chân tạm nghỉ tại một ngôi chùa tên Ma Cô Tiên.
09/04/2013(Xem: 8707)
Truyền thống Phật giáo Việt Nam từ truớc đến nay vốn thiên về Phật giáo Phát triển hay Đại thừa; mãi đến năm 1959 lần đầu tiên bộ kinh Trường A Hàm do Hòa thượng Thích Thiện Siêu phiên dịch được xuất bản thì Phật giáo Nguyên thủy mới được các Phật tử chú ý đến. Mặc dù bộ kinh này nằm trong Hán tạng thuộc hệ thống Phật giáo Phát triển, nhưng tinh thần của nó thì tương quan mật thiết với 5 bộ Nikàya trong giáo lý Nguyên thủy.
09/04/2013(Xem: 8458)
Phương Tây có câu tục ngữ "Hoạn nạn làm lớn con người". Phương Đông cũng có câu danh ngôn tương tự "Ngậm cay đắng trong cay đắng mới làm con người trên loài Người". Trường hợp của Trần Thái Tông sao mà ứng với hai câu này đến thế?
09/04/2013(Xem: 8891)
Hòa thượng Thích Thiện Châu Nguyên Đạo (Đọc tại buổi lễ tưởng niệm và lễ Trà Tỳ Hòa thượng Thích Thiện Châu) Hòa thượng họ Hồ Đắc, tên Cư, Pháp danh Tâm Thật, Pháp hiệu Thiện Châu, sinh ngày 23 tháng 2 năm 1931 tức ngày 7 tháng 1 năm Tân Mùi tại làng An Truyền, huyện Phú Vang, Tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ Thầy là Cụ Hồ Đắc Phách, thân mẫu là Cụ Nguyễn Thị Cần.
09/04/2013(Xem: 35976)
Hòa thượng pháp danh Thiền Tâm, pháp hiệu Liên Du, tự Vô Nhất thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 43, thế danh Nguyễn Nhựt Thăng, sinh năm 1925 (Ất Sửu) tại xã Bình Xuân, Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Song thân là cụ Nguyễn Văn Hương và cụ Trần Thị Dung pháp danh Giác Ân. Ngài là người thứ 10 trong số 13 anh em, 4 trai, 9 gái.
09/04/2013(Xem: 10401)
Hòa Thượng Thích Thanh Kiểm, thế danh Vũ Văn Khang, sinh ngày 23/12/1921 (Tân Dậu), tại làng Tiêu Bảng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Thân phụ là Cụ Ông Vũ Đức Khanh, thân mẫu là Cụ Bà Đỗ Thị Thinh. Hoà thượng có 5 anh chị em, 3 trai 2 gái. Ngài là con thứ 4 trong gia đình.
09/04/2013(Xem: 8400)
Lý Càn Đức (Bính Ngọ 1066 - Mậu Thân 1128) là vua thứ 4 nhà Lý, con trai duy nhất của vua Lý Thánh Tông và Ỷ Lan phu nhân tức Linh Nhân hoàng hậu. Càn Đức sinh ra ở Cung Động Tiên, gác Du Thiềm (gác thưởng Trăng) vào tháng Giêng năm Bính Ngọ, niên hiệu Chương Thánh năm thứ 8 (23-2-1066), hồi vua Thánh Tông đã ngoài 40 tuổi. Một ngày sau ngày sinh thì được lập làm Thái tử, 6 tuổi vua cha mất, được tôn làm vua, tức vua Lý Nhân Tông. Vua có tướng hảo, tâm hiền, bản chất thông minh dũng lược.
09/04/2013(Xem: 9259)
Mỗi khi tâm niệm đến hành trạng Thiền sư Vạn Hạnh, chúng ta không thể không đề cập đến con người và sự nghiệp Lý Công Uẩn. Giá trị lịch sử của một con người không chỉ ảnh hưởng đến tự thân mà dư âm giá trị lịch sử của con người đó còn ảnh hưởng trực tiếp đến muôn người khác từ thế hệ này qua thế hệ khác. Và quả thật, Vạn Hạnh Thiền sư là người có công rất lớn trong việc khai sáng ra triều đại nhà Lý thì Lý Công Uẩn là vị vua đầu tiên thực thi tinh thần Vạn Hạnh bằng tất cả sự thể nhập "Đạo Pháp - Dân tộc" trong một thực thể duy nhất.
09/04/2013(Xem: 17022)
Có lần trong tù, đói quá, Thầy Quảng Độ nằm mơ thấy được nhà bếp cho một cái bánh bao. Ăn xong thấy bụng căng thẳng, no nê, rất hạnh phúc. Sự thật là đêm ấy, trước khi đi ngủ, vì đói quá nên thấy uống nước cho đầy bụng dễ ngủ. Và Thầy đã đái dầm ra quần. Sáng hôm đó Thầy có làm một bài thơ.
09/04/2013(Xem: 9206)
Đức Đại Lão Hòa Thượng Chánh Thư Ký Xử Lý Viện Tăng Thống GHPGVNTN là thế hệ thứ 8 của phái Thiền Thiệt Diệu Liễu Quán, Pháp danh Trừng Nguyên, Hiệu Đôn Hậu. Xuất gia và thọ cụ túc với Hòa Thượng Bổn sư là Tổ Tâm Tịnh, khai sơn chùa Tây Thiên Huế, sau các Pháp huynh là quý Hòa Thượng Giác Nguyên, Giác Viên, Giác Tiên, Giác Nhiên...