Ngài Hải Thịnh Quy Tây

01/04/202315:37(Xem: 3763)
Ngài Hải Thịnh Quy Tây



ht hai thinh (3)


Ngài Hải Thịnh Quy Tây.

Huế lưu ảnh, dòng Hương Giang thơ mộng.
Vọng chuông ngân, chùa Thiêng Mụ Thơm trong.
Thơm mùi đạo, áo tràng lam trượng thất.
Mõ nhịp đều, sương mờ ảnh sắc không.


Mây phủ kính, dòng tâm tang tiễn góc.
Dấu phong Trần, năm ấm vội tang thông.
Mượn huyễn thân, khoác lên áo nâu sòng.
Tu tinh tấn, tâm Phật ngộ bên trong.


Sáu mươi năm, rừng thiền nương bóng Nguyệt.
Hầu Tôn sư, giữ giới định nghiêm mình.
Lo Phật sự, với vai trò Tri sự.
Dạy đồ Tôn, biết giữ gìn lời kinh.


Phòng phương trượng, gậy thiền sư trấn tích.
Chuổi lần tràng, nhất tâm niệm Nam Mô.
Vui trà tịnh, an trú tâm cõi Phật.
Chiếc guốc mộc, dựng cửa thất thiền thơ.


Giới nghiêm Lạp, tháng ngày kinh mõ tuệ,
Ngộ Pháp hoa, trì niệm chẳng thời quên.
Đàn Cụ Túc, trao hiệu Thích Hải Thịnh.
Mãi Tôn thờ, hình Phật ảnh nhân duyên.


Bóng triền non, ẩn mình trong trượng phủ,
Phiến đá thời, ngộ pháp học thiền sư.
Vui tầm đạo, phù Vân mây chẳng bận.
Tịnh tọa đài, bóng phủ kiếp chân tu.

Không huyễn tướng, mượn thời kinh nghiêm mật.
Sắc Huyền không, lão tử chớ sanh nghi,
Bừng tĩnh ngộ, vô thường trong hơi thở.
Trả mộng đời, niệm Phật bước ra đi.


Xin bái biệt, bậc thiền sư an trú.
Niết bàn xưa, khai ngộ tính pháp vương.
Xin bái biệt, bậc an hành thiền giả.
Quốc độ hành, Tịnh độ cảnh Trung ương.


Xin bái biệt, bậc Thiền Tăng ẩn sĩ,
Giới nghiêm hành, sống phạm hạnh trung tôn.
Ngài Hải Thịnh, xin giã từ tứ chúng.
Vọng liên Thuỳ, Tâm Quang trú hương thơm.



ht hai thinh (6)


ht hai thinh (4)
ht hai thinh (5)


ht hai thinh (2)

ht hai thinh (1)

Nhớ Ký ức Xưa:

Sinh thời, chúng con là một tiểu oanh vũ gia đình Phật tử khuôn hội Phật giáo Xuân An, chúng con thường xuyên hay lui tới chùa Thiên Mụ, đảnh lễ và tham quan nghiêm cứu dòng lịch sử chùa, nên chúng con từng được tham vấn Ôn trong thời gian 1990-1997.
Ôn có tính hiền lành, nhưng nghiêm khắc trong từng thời khoá, oai nghi tế hạnh đi đứng phải hết sức chuẩn mực, nên chúng con học được những bài học oai nghi, tán tụng Ôn tán rất hay, giỏi về thơ Phú, thích ẩn mình trong chốn tịch thiền và vui với trà đạo.
Thửa ấy, chúng con từng hầu chuyện, Ôn dạy rằng:
“ Tâm Hỷ, nhớ giữ gìn gốc Phật, ấy là mốt diền cho rường cột, vì xuất gia hay tại gia, cũng giữ gìn Tam quy và ngũ giới, như thuyền bè vượt biển mê, như người xây nhà có móng vững chắc…!”
“Tâm Hỷ là do Tôn sư của Ôn trao, nên dù ở đâu, Tâm hỷ cũng nhớ giữ gìn cõi tâm Bồ đề này tươi sáng….”

Ôn dạy tiếp:
“ Sau này con sẻ là vị xuất gia, nên Ôn cho con bài này, nhớ kỷ và tinh tấn tu học..”
Rồi Ôn đọc:
“ Tâm An trú hành Phật
Hỷ sự pháp Tăng trao.
Ung dung nguồn ngộ lý.
Thiền mật tịnh bay cao.”

Rồi kể từ đó, chúng con được quay về lối đạo, khi thọ xong giới sa di, lên thăm Ôn thì Ôn hay thoa đầu, và thực hành pháp mà Ôn dạy khi còn là Tiểu Cư sĩ Tâm Hỷ.

Thời gian qua mau, Ôn đã thị hiện an trú trong quy trình sanh già bệnh chết, mà lý vô thường thường trao cho tất cả vạn vật trong cõi nam diêm phù đề, nên chúng con tin chắc Ôn an trú trong bậc Thiền Tăng, đã dung thông nơi cõi tịnh.

Chúng con ở xa, vọng bái giác linh Ôn, sanh cảnh tịnh Phật Quốc độ, an trú hầu bậc Tôn sư…!
Tang Lễ Cố Hòa Thượng Thích Hải Thịnh được tổ chức theo di nguyện. Tổ chức giản tiện, đơn giản, không viếng tang.
Nghi thức nhập quan đã diễn ra vào lúc 16 giờ 00 ngày 31/3/2023 (mùng 10 tháng 2 (Nhuận) năm Quý Mão).
Kim Quan cố Hòa Thượng được tôn trí tại Linh Mụ Quốc Tự cố đô Huế đến ngày 13 tháng 2 (nhuận). Tang lễ diễn ra theo nghi thức Tâm Tang .
Bình sinh cố Hòa Thượng là vị tôn túc giản dị từ hoà, sống đời sống ẩn dật, mật hạnh. Ngài giữ nếp cương trực, khí tiết, trung thành với Hòa Thượng

Bổn Sư nhất mực.
Ngài là đệ tử cố Đại Lão Hòa Thượng Đệ tam Tăng thống thượng Đôn hạ Hậu.
Tân Thuận Tịch Hòa Thượng Thích Hải Thịnh (1964-2023).
Nam Mô Lâm Tế Chánh Tôn, Tứ Thập Tam Thế, Linh Mụ Quốc Tự Tri Sự, huý thượng Tâm hạ Quang hiệu Hải Thịnh Tân Viên Tịch Hoà Thượng Giác Linh!


Hà Nội ngày, 11-02 nhuận - Quý Mão.
Tk: Thích Minh Thế
Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 16841)
Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang thế danh là Lê Đình Nhàn, sinh năm Canh Thân, ngày 19-9-1920 (tức ngày mồng 8 tháng 8 năm Canh Thân), quê thôn Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Lê Vỵ pháp danh Như Hương, thân mẫu là cụ bà Ngô Thị Tư pháp danh Như Tâm cùng ở làng Háo Đức.
09/04/2013(Xem: 9323)
Hòa Thượng THÍCH BẢO AN, húy thượng THỊ hạ HUỆ tự HẠNH GIẢI, thế danh LÊ BẢO AN, thuộc đơøi Lâm Tế Chánh Tông thứ Bốn mươi hai. Nguyên Hòa Thượng sanh năm 1914 (Giáp dần), tại thôn Tịnh Bình, xã Nhơn Hạnh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh, trong gia đình Lê gia thế phiệt, vốn dòng môn phong Nho giáo, đời đời thâm tín Tam Bảo, tôn sùng Ðạo Phật. Thân phụ là cụ ông LÊ PHÚNG, pháp danh NHƯ KINH, thân mẫu cụ bà TỪ THỊ HỮU, pháp danh NHƯ BẰNG, đức mẫu là cụ bà NGUYỄN THỊ CƠ, pháp danh NHƯ DUYÊN.
09/04/2013(Xem: 17915)
HT Thích Giác Trí, húy Nguyên Quán, phương trượng chùa Long Hoa, quận Phù Cát - Bình Định, tuổi Mậu Thìn 1928, năm nay 80 tuổi. Năm 13 tuổi Ngài xuất gia với Đại sư Huyền Giác, là Trụ trì tổ đình Tịnh Lâm Phù Cát. HT Mật Hiển 1907-1992 chùa Trúc Lâm, Huế, thọ giới Tỳ kheo tại đây năm 1935, giới đàn do HT Huyền Giác thành lập, thỉnh Tổ quốc sư Phước Huệ làm Đàn Đầu Hòa Thượng.
09/04/2013(Xem: 9535)
Bác Phạm Đăng Siêu sinh ngày 4 tháng 7 năm Nhâm tý (1912) tại Phú Hòa, kinh đô Phú Xuân, thành phố Huế. Nguyên quán thôn Tân Niên Đông, huyện Tân Hòa, phủ Tân Định, tỉnh Gò Công. Song thân Bác là cụ ông Phạm Đăng Nghiệp và cụ bà Tôn Nữ Thị Uyên, thuộc gia đình quý tộc giàu có.
09/04/2013(Xem: 8719)
Truyện của tôi không đáng gì mà phải ghi. Chỉ vì truyện ấy, hơn vài thập kỷ trước thập kỷ 2530 (1975-1985), có liên quan đến Phật giáo VN, lại bị hư cấu truyện và phim sai quá nên phải ghi. Nhưng ghi như dưới đây thì chỉ là có còn hơn không mà thôi.
09/04/2013(Xem: 10335)
Hòa Thượng thế danh Phan Công Thành, pháp danh Nguyên Trạch, tự Chí Công, Hiệu Giác Lâm, thuộc đời thứ 44 dòng thiền Lâm Tế, pháp phái Liễu Quán.
09/04/2013(Xem: 21639)
TUỆ SỸ, MỘT THIÊN TÀI CỦA VIỆT NAM : Thầy xuất gia từ thuở còn thơ và sống ở Lào, làm chú tiểu Sa Di sớm chiều kinh kệ, công phu bái sám, đó là bổn phận của người làm điệu, trong nếp sống nhà chùa. Dù chùa ở Lào hay Việt Nam cũng vậy, tụng kinh học luật là điều chính yếu của người xuất gia tu Phật. Bằng bản chất thông minh, thiên tư từ thuở nhỏ, cho nên sau khi xuất gia, Thầy đã miệt mài học hỏi kinh điển, siêng năng nghiên cứu nghĩa lý đạo mầu. Có lần được nghe quí Ngài kể lại, thời gian sống nơi chùa Lào, suốt ngày Thầy ở dưới bàn tượng Phật Bổn Sư thờ nơi chánh điện, để học kinh luật, sưu tra luận nghĩa, mà quí sư Lào sau một thời gian dạy dỗ, đã thấy được trí tánh thông minh của Thầy......
09/04/2013(Xem: 8823)
Khi viết về ông, tôi vẫn còn nguyên xúc động của lần đầu ra xứ Bắc tìm dấu tích về nhà trí thức Phật học này cho công trình biên khảo Chư tiền bối hữu công mà tôi đang thực hiện.Những mãng huyền thoại về cuộc đời của ông tôi được nghe qua nhiều người kể lại, mỗi nơi một ít, mỗi người thuật mỗi cách, đã gây cho tôi nhiều trăn trở, nghĩ suy và qua đó cảm nhận sâu sắc hơn về một nhân vật nhiều tài năng mà cũng đầy bất hạnh này.
09/04/2013(Xem: 8469)
Hòa Thượng Thích Thiện Thanh, thế danh Nguyễn Văn Sắc, nguyên quán làng Phú-Nhuận-Nha-Mân, tỉnh Sa-Ðét miền Nam nước Việt, sinh Năm Ất Hợi (1935). Song thân Ngài là Cụ Nguyễn Văn Xướng và Cụ Bà Huỳnh Thị Thâu.
09/04/2013(Xem: 9087)
Hòa thượng họ Võ, húy Trọng Tường, Pháp danh Tâm Phật, tư Tri Đức, hiệu Thiện Siêu, Hòa thượng sinh ngày 15 tháng 7 năm Tân Dậu (1921) trong môt gia đình thâm Nho tín Phật ở làng Thần Phù, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, thành phố Huế. Thân Phụ là C ông Võ Trọng Giáng, thân mẫu là Cụ bà Dương Thị Viết. Hòa thượng là con trưởng trong một gia đình có 6 anh em: 3 trai, 3 gái. Người em kế cũng xuất gia, đó là cố Thượng tọa Thích Thiện Giải, nguyên là Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất tỉnh Lâm Đồng; Trú trì chùa Phước Huệ - Bảo Lộc.