Vu Lan

16/02/202308:13(Xem: 3276)
Vu Lan

VU LAN

Lễ báo hiếu

 

Vu Lan là lễ quan trọng thứ hai, sau lễ Phật Đản, của Phật tử ở những nước chịu ảnh hưởng Phật Giáo đại thừa như Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản v.v... Lễ này bắt nguồn từ kinh Vu Lan Bồn (Ulumbana ; giải thoát nỗi khổ bị treo ngược) do pháp sư Dharmaraksa dịch từ chữ Sanskrit ra chữ Trung Quốc vào đời Tây Tấn (266-316). Ý kinh có thể tóm tắt như sau :

Mục Kiền Liên (Maugalyâyâna), sau khi giác ngộ nhờ có thần thông, thấy Mẹ đang bị đọa đày, đói khát trong cảnh giới quỉ đói (ngả quỉ). Ngài đến thăm và dâng cơm cho mẹ. Mẹ Ngài bốc cơm ăn nhưng cơm hóa lửa (vì nghiệp chướng) không ăn được. Mục Kiền Liên hết sức đau đớn. Song tự một mình mình không cứu được mẹ. Theo lời Phật đến ngày rằm tháng bảy, ngày mãn mùa tu học của chư tăng, ngài cúng dường và cầu chư tăng khắp mười phương chuyển nghiệp cho mẹ. Kết quả là mẹ Ngài và những chúng sanh cùng cảnh ngộ đều được giải thoát.

Gần đây, kinh Vu Lan được tụng đọc rất nhiều trong ngày rằm tháng bảy hay suốt cả mùa Vu Lan tháng bảy. Các chùa xã hội Phật giáo đều tổ chức long trọng lễ Vu Lan như lễ cúng dường chư tăng vào dịp « tự tứ » (lễ sám hối sau 3 tháng tu học) để cho phật tử tại gia có dịp cầu phước cho ông bà cha mẹ mà chưa khai triển hết tinh thần của lễ.

Đó là chưa nói đến việc đối với phần đông dân chúng còn giữ phong tục cũ, lễ Vu Lan vẫn là lễ « xá tội vong nhân » hay lễ « cúng cô hồn ». Do đó, nhiều hình thức mê tín dị đoan được phát sinh trong ngày lễ này : cúng kiến bừa bãi dưới gốc đa, gốc đề, ở ngã ba đường cái, có cả heo, gà, rượu, vàng mã kể cả xe ô tô, máy truyền thanh, truyền hình bằng giấy...Lễ Vu Lan cũng bị những kẻ đầu cơ tôn giáo, thầy pháp, thầy phù thủy làm sai lạc ý nghĩa, có hại cho dân chúng và đất nước.

Ngày nay, trong hoàn cảnh mới của đất nước, với khí thế đi lên của dân tộc, lễ Vu Lan phải được hiểu và tổ chức một cách đúng đắn lợi ích để một mặt ngăn chặn những tập quán mê tín dị đoan, và mặt khác, phát huy truyền thống văn hóa tố đẹp của dân tộc.

Như vậy, ý nghĩa lễ Vu Lan là gì? Có thể nói rằng Vu Lan là lễ báo hiếu của Phật tử.

chữ hiếu

Trước khi bàn đến báo hiếu, chúng ta nên tìm hiểu sơ qua ý nghĩa chữ hiếu theo tinh thần đạo Phật áp dụng trong thực tại Việt Nam. Hiếu là sự kính thương, phụng dưỡng, nối chí đối với những người đã cho ta sự sống. Hiếu không những chỉ là bổn phận mà còn là quyền lợi thiêng liêng của con người biết ân nghĩa. Cha mẹ là người đã sinh thành ta. Vì thế, chúng ta phải hiếu với cha mẹ. Song sự sống còn, nhất là sự sống có ý nghĩa, của ta là nhờ công ơn của chúng sanh xã hội. Vì thế, chúng ta phải hiếu với cả đồng bào, nhân loại : đồng bào nuôi dưỡng, giáo dục, bảo vệ ta, nhân loại (anh em bạn bè trên thế giới có quan hệ tốt với ta ) sống chung và ủng hộ ta. Hơn nữa, nhìn vào chiều sâu thăm thẳm của thời gian thì sự sống quí báu của kiếp người mà chúng ta có trong hiện tại, ngoài công đức của cha mẹ và xã hội, còn nhờ công đức của nhiều chúng sanh khác, trong tình nghĩa cha mẹ, anh em bà con, qua nhiều đời nhiều kiếp ở quá khứ. Nói cách khác, trong những người mà chúng ta có quan hệ tốt trong đời này nhất định có rất nhiều người là cha mẹ, trong nghĩa hẹp cũng như trong nghĩa rộng, của chúng ta trong quá khứ. Chính những người này đã giúp đỡ chúng ta có đủ điều kiện tích lũy phước đức để được làm người hôm nay.

Vì thế, theo đạo Phật, hiếu với cha mẹ trong hiện tại là tròn bổn phận làm con, còn hiếu với nhiều chúng sanh qua nhiều đời nhiều kiếp là tu hành theo hạnh Bồ tát.

báo hiếu

Đối tượng báo hiếu đã rộng và nhiều như thế cho nên phương thức báo hiếu phải rất là phong phú. Đối với « cha mẹ » đã mất thì tri ân tưởng niệm là cần thiết. Song đối với « cha mẹ » còn sống thì thay đổi cuộc đời khổ đau, xây dựng cuộc sống an lành là quan trọng. Muốn đổi thay cuộc đời cho « cha mẹ » chúng ta phải vận dụng mọi phương tiện trong nhiều phạm vi gồm cả chính trị, kinh tế, văn hóa v.v... Như vậy là chúng ta phải báo hiếu với tất cả tài năng, trí tuệ, của cả cuộc đời hay nhiều đời và điều chắc chắn là phải nhờ cậy và cộng tác với nhiều người khác nữa.

Riêng Phật tử Việt Nam hiếu có nghĩa là kính thương, phụng dưỡng và nối chí không những đối với cha mẹ sanh thành mà còn đối với những anh hùng liệt nữ trong nước, bè bạn trên thế giới, từ bao nhiêu thế hệ, đã tranh đấu, hy sinh cho sự sống cón có ý nghĩa tốt đẹp của chúng ta hôm nay.

 Hành động báo hiếu cụ thể của Phật tử Việt Nam trong hoàn cảnh hiện tại của đất nước là cùng với mọi người cố gắng liên tục giải thoát cha mẹ, bà con đồng bào ra khỏi tình trạng nghèo thiếu, dốt nát mất nhân phẩm. Ngoài ra, trên bình diện chúng sanh xã hội, chúng ta nên ủng hộ và cộng tác với anh em bè bạn tiến bộ  trên thế giới trong sự nghiệp xây dựng hòa bình và an lạc cho toàn thể nhân loại.

lễ Vu Lan

Với ý nghĩa trên thì lễ Vu Lan phải được tổ chức thế nào để người tham dự, qua nghi lễ giản dị trang nghiêm, hiểu được ý nghĩa sâu sắc, cao rộng của chữ Hiếu và cảm thấy được hướng dẫn đầy đủ trong hành động báo hiếu có hiệu quả. Theo thiển ý, lễ Vu Lan có thể được tổ chức với hai mục đích sau đây :

1. Biểu lộ lòng biết ân với cha mẹ và những người đã cho ta sự sống (đối với người đã mất thì tổ chức tưởng niệm, đối với người còn sống thì lễ chúc tụng)

2. Để ra phương thức báo hiếu cụ thể nhằm đưa dân tộc (trong đó có cha mẹ), nhân loại ra khỏi tình trạng nghèo khổ bất an, tiến tới cuộc sống no ấm, an lành.

Paris, mùa Vu Lan 2520-1976

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 9027)
Ngài thế danh là Nguyễn Xuân pháp danh Thanh Phong pháp tự Hoàng Thu hiệu Như Nguyện. Sinh ngày 01/06/1937 tai thôn Phú Cấp xã Diên Phú huyện Diên Khánh tinh Khánh Hoà. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Ðối thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Lẻo pháp danh Trừng Lan. Ngài là anh cả trong 4 anh em.
10/04/2013(Xem: 14072)
Viết thêm một bài về Ngài Thiện Minh, dù nhiều vị đã viết - Viết, vì thấy thêm một bài của Tâm Nguyên trên diễn đàn baovechanhphap - Viết, vì Mùa Hạ 2009, tịnh niệm An Cư, tưởng nhớ tiền nhân, làm gì cho hôm nay, và nhắc nhở hậu bối mai sau Tương chao nhà quê Tăng Lữ
10/04/2013(Xem: 11806)
Hòa Thượng Thích Tắc Thành - Trình bày: Chiếu Quang và Hoàng Lan
10/04/2013(Xem: 8747)
Hòa thượng thế danh Võ Văn Nghiêm, pháp danh Giác Trang, hiệu Hải Tràng thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông, đời thứ 41, sinh năm Giáp Thân (1884) tại làng Tân Quí, tổng Phước Điền Thượng, tỉnh Chợ Lớn. Thân phụ là cụ ông Võ Văn Nghĩa, thân mẫu là cụ bà Trần Thị Tín. Ngài sinh trưởng trong một gia đình tín ngưỡng Tam Bảo thuần thành. Thân phụ Ngài là một vị hương chức trong làng, lúc tuổi ngũ tuần xin từ chức để xuất gia hiệu là Thanh Châu, đến 75 tuổi được phong Giáo thọ, sáng lập chùa Vạn Phước tại làng Tân Chánh, huyện Hốc Môn, Sài gòn. Ngài có hai anh em trai, người anh cả xuất gia được tấn phong Hòa thượng, hiệu Chơn Không.
10/04/2013(Xem: 7681)
Hòa Thượng THÍCH BẢO AN, húy thượng THỊ hạ HUỆ tự HẠNH GIẢI, thế danh LÊ BẢO AN, thuộc đời Lâm Tế Chánh Tông thứ Bốn mươi hai. Nguyên Hòa Thượng sanh năm 1914 (Giáp dần), tại thôn Tịnh Bình, xã Nhơn Hạnh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh, trong gia đình Lê gia thế phiệt, vốn dòng môn phong Nho giáo, đời đời thâm tín Tam Bảo, tôn sùng Ðạo Phật. Thân phụ là cụ ông LÊ PHÚNG, pháp danh NHƯ KINH, thân mẫu cụ bà TỪ THỊ HỮU, pháp danh NHƯ BẰNG, đức mẫu là cụ bà NGUYỄN THỊ CƠ, pháp danh NHƯ DUYÊN.
10/04/2013(Xem: 8803)
Hòa Thượng Thích Thiện Thanh thuộc dòng thiền Lâm Tế Gia Phổ đời thứ 41, thế danh Nguyễn Văn Sắc, nguyên quán làng Phú-Nhuận, Nha-Mân, tỉnh Sa-Ðéc miền Nam nước Việt (nay thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp), sinh Năm Ất Hợi (1935) Niên hiệu Bảo Đại năm thứ 20. Song thân Ngài là Cụ Nguyễn Văn Xướng và Cụ Bà Huỳnh Thị Thâu đều kính tin Tam Bảo.
10/04/2013(Xem: 12649)
H.T. Thích Nhật Minh hiệu Vĩnh Xuyên thuộc dòng Phi Lai đời thứ 41, sau cầu pháp với Thiên Thai Thiền Giáo Tông được ban pháp tự Nguyên Quang, thế danh là Đặng Ngọc Hiền, sinh năm Kỷ Sửu (1949) tại xã Khánh An, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Thân phụ là Cụ ông Nguyễn Văn Tá, Thân mẫu là Cụ Trần Thị Ngọc Anh, Hòa Thượng là con út trong gia đình có bốn anh em, mới hơn một tháng tuổi Hòa Thượng đã phải mồ côi mẹ nên được gửi cho Cô ruột là Cụ bà Nguyễn Thị Đền pháp danh Tâm Đền tự Diệu Hoà.....
10/04/2013(Xem: 8882)
Hòa Thượng húy Lê Thùy, pháp danh Thị Năng, tự Trí Hữu, hiệu Thích Hương Sơn, sinh năm Quí Sửu (1912) tại làng Quá Giáng, huyện Điện Bàn (Hòa Vang) tỉnh Quảng Nam trong một gia đình Nho học và tin Phật. Thân phụ: Lê Cát, Thân Mẫu: Kiều Thị Đính, có mười hai người con; Ngài là con thứ bảy trong gia đình.
10/04/2013(Xem: 10765)
Đại lão Hòa Thượng THÍCH HUỆ QUANG, húy thượng Không hạ Hành, tự Từ Tâm, hiệu Huệ Quang, thuộc dòng Lâm Tế chánh tông đời thứ 41. Thế danh Dương Quyền. Ngài sinh ngày 10 tháng 01 năm Đinh Mão (1927) tại thôn Phước Hải, huyện Vĩnh Xương, tỉnh Khánh Hòa.
10/04/2013(Xem: 10937)
Tổ đình Từ Hiếu và Môn đồ Pháp quyến vô cùng kính tiếc báo tin: Hòa thượng húy thượng TRỪNG hạ HUỆ hiệu CHÍ MẬU, trú trì Tổ đình Từ Hiếu - thôn Thượng 2, xã Thủy Xuân, thành phố Huế,