Tịnh Độ Nhân Gian

16/02/202308:12(Xem: 3524)
Tịnh Độ Nhân Gian

Tịnh Độ Nhân Gian

Thích Thiện Châu

 

 

 

Phần đông Phật tử Việt Nam tu dưỡng theo pháp môn Tịnh độ A Di Đà nên thường nhất tâm niệm Phật cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc. Tín ngưỡng phổ thông này tuy không phát xuất từ kinh điển căn bản song rất thích hợp với những người hằng mong cầu một đời sống an lành ở kiếp sau.

Tuy nhiên nếu Phật tử chỉ lo cho được sanh về thế giới Cực Lạc sau khi chết mà lãng quên hay chán ngán thế giới mình đang sống vì cho là ô uế, đau khổ, không đáng quan tâm thì đó là quan niệm không hợp với Phật lý.

Thế giới này quả thật là ô uế và đau khổ, điều này không ai có thể phủ nhận. Nhưng câu hỏi mà bất cứ người nào có ý thức xã hội cũng đặt ra là tại sao Phật tử không áp dụng Phật lý để cải tạo, thanh tịnh hóa, và biến nó thành thế giới thanh tịnh an lành? Đây cũng là vấn đề mà nhiều nhà Phật học đã đề cập: Tịnh độ nhân gian mà đại biểu là Tịnh độ Di Lặc.

Trong khi văn chương Tịnh độ Di Đà, Dược Sư ca ngợi những thế giới an lành xa xôi ngoài trái đất thì văn chương Tịnh độ Di Lặc khuyến khích xây dựng thế giới an lành ngay trong môi trường mà loài người đang sinh sống.

Theo kinh điển thì trong tương lai, Bồ Tát Di Lặc (Maitreya) sẽ xuất hiện trên trái đất này tu hành thành Phật và cộng tác với Chuyển Luân Vương (Cakravartin) để cải tạo thế giới này thành Tịnh độ về phương diện vật chất cũng như tinh thần. Về vật chất thì đất sẽ sạch gai góc và cỏ mềm như nhung trải khắp nơi, cây cối xanh tươi, hoa quả thanh mậu, đường sá phẳng phiu, bóng lộn, phố phường đông đúc, nhà cửa thành quách được xây dựng bằng nhiều loại đá quí, âm nhạc hòa vang khắp nơi: về tinh thần thì dân chúng sống lâu, hòa hài, an lành, không có chiến tranh, áo cơm đầy đủ, của cải dư dả, nhà cửa khang trang nơi đại tiểu tiện đều thanh khiết, mọi người thông hiểu nhau bằng một thứ ngôn ngữ, thương yêu nhau như anh em, đời sống đạo  đức rất cao, không có giết chóc, trộm cướp nên không có tù tội và nhà lao v.v…(xem Tăng Nhất A Hàm, 44, Taishô, II, 787; Kinh Di Lặc Hạ Sanh, Diệu Không dịch).

Đọc qua những sự mô tả về cảnh sống lý tưởng trên chúng ta liên tưởng đến một phần nào tiến bộ vật chất nhờ khoa học kỹ thuật mang lại của thế giới hiện đại. Nhưng về phương diện tinh thần thì có lẽ phải đợi một thời gian  lâu nữa, thế giới này nếu có thay đổi về phương diện văn hóa, đạo đức mới mong có thể theo kịp Tịnh độ Di Lặc.

Điều cần lưu ý là tư tưởng Tịnh độ Di Lặc này được ghi chép trong kinh điển nguyên thủy và có thể chất phác hơn những tư tưởng Tịnh độ khác được phát triển về sau như tư tưởng Tịnh độ Di Đà, Tịnh Độ Dược Sư. Cũng vì vậy mà nó có vẻ thực tế, chất phác, và gần gũi với thế giới mà chúng ta đang sống. Do đó nó cũng thiết tha với những người có lý tưởng muốn cải tạo và xây dựng xã hội ngày nay, nhất là về phương diện văn hóa, đạo đức.

Có một điều làm cho chúng ta thắc mắc là vấn đề thời gian: bao lâu nữa thì Tịnh độ Di Lặc mới xuất hiện? Theo kinh điển thì còn lâu, có thể là cả triệu năm nữa. Con số thời gian ở đây phải được hiểu như là con số tượng trưng mà chúng ta thường thấy trong kinh điển được ghi chép ở Ấn Độ. Vì thế không nên câu nệ vào con số mà nên  nắm lấy ý nghĩa: cảnh sống lý tưởng sẽ xuất hiện trong  tương lai khi mọi người trên trái đất này đều giác ngộ chân lý, có tinh thần lợi tha và nhất là quyết tâm cùng nhau thực hiện cuộc sống đáng yêu đáng sống của loài người.

Điểm mâu thuẫn khác cũng cần được giải quyết là làm sao chúng ta có thể đợi chờ một cảnh sống lý tưởng trong khi mục đích của đạo Phật là giải thoát sanh tử. Theo thiển ý: đối với người có đại nguyện lớn muốn kiến tạo Tịnh độ nhân gian thì số thời gian sống chết, lăn lộn để thực hành đạo Bồ Tát trên đường giác ngộ, dưới phục vụ chúng sanh - chẳng có gì là quan trọng. Bởi chúng ta không thể xa lìa chúng sanh mà độ được chúng sanh. Và dầu cho có chứng Niết Bàn rồi cũng phải trở lại độ chúng sanh trong luân hồi. Hơn nữa vì nguyện mà ở trong luân hồi thì không bao giờ khổ (khổ chăng vì nghiệp mà luân hồi). Lý "Niết Bàn luân hồi" giúp chúng ta nhẫn nhục, hoan hỉ, tự tại trong công cuộc kiến tạo Tịnh độ nhân gian. Đạo lý này cũng giúp chúng ta phá bỏ những tư tưởng sợ sệt chán ghét, và bi quan đối với cuộc đời.

Nói đến Tịnh độ nhân gian hay Tịnh độ Di Lặc tức là nói đến niềm hy vọng lớn về sự xuất hiện một mùa Xuân an lành mà mỗi chúng ta sẽ là một Di Lặc kiến tạo cảnh sống lý tưởng bằng cách liên tục, tích cực tham gia công tác kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa v.v… để thực hiện một uớc mơ cộng đồng cao đẹp của loài người: Biến thế giới ô uế khổ đau này thành thế giới thanh tịnh an lành.

 

 

Đây là Tịnh độ

Tịnh độ là đây

Mỉm cười chánh niệm

An trú hôm nay

 

Bụt là lá chín

Pháp là mây bay

Tăng thân khắp chốn

Quê hương nơi này

 

Thở vào hoa nở

Thở ra trúc lay

Tâm không bận rộn

Tiêu dao tháng ngày…

Thích Nhất Hạnh

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
29/08/2012(Xem: 7668)
Tôi muốn nói đến Sư Huynh Phổ Hòa, người anh lớn trong Gia Đình Phật Tử Việt Nam tức Huynh Trưởng HỒNG LIÊN Phan Cảnh Tuân khả kính của chúng ta.
23/08/2012(Xem: 10991)
Kính bạch Sắc tứ Thập Tháp Tổ đình, Tân tịch trụ trì Thích Kế Châu, Đại lão Hòa thượng giác linh, tác đại chứng minh. Hôm nay, chúng tôi là những Pháp huynh, Pháp đệ thuộc dòng pháp Chúc Thánh, Tổ đình thứ hai Quảng Nam, và dòng pháp Thiền Tôn, Tổ đình thứ ba – Huế, tại Bình Định, và cũng là con cháu tám, chín đời dòng pháp Thập Tháp – Tổ đình thứ nhất, thuộc dòng pháp Thiên đồng Trung quốc tại Việt nam. Giờ này, tất cả chúng tôi đã vân tập đông đủ trước linh đài trang nghiêm, đau buồn này để làm lễ tiễn đưa kim quan Cố Đại lão Hòa thượng vào “BẢO THÁP MẬT TÀNG”, nghìn thu an nghỉ. Kính bạch Tân tịch Đại lão Hòa thượng giác linh! Trước hết, tại nơi đây, tất cả chúng tôi: Chí thành đến trước linh tòa, Cung kính dâng lên pháp cúng Kinh diên tán tụng,
04/08/2012(Xem: 10072)
Hòa thượng Thích Duy Lực, pháp danh Duy Lực, pháp tự Giác Khai, nối pháp thiền phái Lâm Tế. Ngài thế danh La Dũ, sinh ngày 5 tháng 5 năm Quý Hợi 1923, nhằm Trung Hoa Dân quốc thứ 12, tại làng Long Yên, huyện Phong Thuận, phủ Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc; thân phụ là cụ ông La Xương, thân mẫu là cụ bà Lưu Thị. Ngài sinh trưởng trong một gia đình chuyên nghề nông trang, quy kính Tam bảo. Năm Mậu Dần 1938, Ngài được 16 tuổi, vừa học xong tiểu học thì phải lên đường theo cha sang Việt Nam sinh sống. Khi mới sang, gia đình Ngài dừng chân ở Cần Thơ lập nghiệp; trong những lúc rỗi rảnh Ngài thường tranh thủ tự học thên Hoa văn và quốc ngữ Việt Nam.
20/07/2012(Xem: 12014)
Thiền sư Bạch Ẩn Huệ Hạc (1685–1768) là vị Tổ trung hưng thiền Lâm Tế tại Nhật Bản. Xa rời phương thức đánh hét cùng các ngôn ngữ siêu tuyệt, Ngài cố công diễn tả Thiền bằng ngôn ngữ dễ hiểu để tầng lớp bình dân có thể hiểu được.
19/07/2012(Xem: 10799)
Qua hàng ngàn năm Lịch sử của Dân tộc, hơn 2000 năm có mặt trên đất nước, Phật giáo đã đóng góp cho Tổ quốc một thời gian dài trên dưới 400 năm an bình thịnh vượng, chưa nói đến những thời đại riêng lẻ ngắn ngủi.
03/07/2012(Xem: 14743)
Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, thế danh Nguyễn Văn Bình, sinh ngày 02 tháng 09 năm Đinh Tỵ (17-10-1917), tại làng Mỹ An Hưng (Cái Tàu Thượng) huyện Châu Thành, tỉnh Sa Đéc (Đồng Tháp).
30/06/2012(Xem: 12334)
Thành Kính Tưởng Niệm Hòa Thượng Thích Giác Lâm (1928 - 2012)
24/06/2012(Xem: 24185)
Kính lạy tôn dung Ngài Con xin tìm lại dấu xưa 39 năm, hai thế kỷ sao vừa Nín thở, lặng yên, đọc từng con chữ
12/06/2012(Xem: 8395)
Hòa thượng họ Đỗ, huý Châu Lân, sinh năm 1927 (Đinh Mão) tại thôn Quan Quang, xã Nhơn Khánh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Đỗ Hoạch, và thân mẫu là cụ bà Trần Thị Tú. Gia đình gồm năm người con, hai trai và ba gái; Hòa thượng Thích Đỗng Quán thứ ba, và Ngài là thứ tư. Gia đình Ngài đời đời thuần tín Tam bảo. Cha mất sớm, được mẹ chăm lo dạy dỗ. Với bẩm tánh thông minh và hiếu học, năm 11 tuổi Ngài thi đậu bằng Yếu lược. Việc này chưa xảy ra ở vùng quê của Ngài nên đích thân ông Lý trưởng đến thăm và chúc mừng. Đó là một vinh dự cho gia đình và quê hương Ngài lúc bấy giờ.
11/06/2012(Xem: 9498)
Sự nghiệp thiền sư Tăng Hội rất lớn lao. Nhờ vào những trước tác của Thầy mà ta biết được hành tướng của sự thực tập thiền tại trung tâm Luy Lâu Việt Nam và tại trung tâm Kiến Nghiệp Trung Quốc ngày xưa. Tư tưởng thiền của thầy Tăng Hội là tư tưởng thiền Đại Thừa, đi tiên phong cho cả tư tưởng Hoa Nghiêm và Duy Thức Bao giờ các chùa Việt Nam sẽ thờ tổ Khương Tăng Hội Hiện nay chúng ta đang ở thế kỷ XXI với nền văn minh rực rỡ, với nhiều thiết bị hiện đại, với mức sống rất cao, với vốn hiểu biết rất thien su khuong tang hoi.jpg