Tịnh Độ Nhân Gian

16/02/202308:12(Xem: 3620)
Tịnh Độ Nhân Gian

Tịnh Độ Nhân Gian

Thích Thiện Châu

 

 

 

Phần đông Phật tử Việt Nam tu dưỡng theo pháp môn Tịnh độ A Di Đà nên thường nhất tâm niệm Phật cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc. Tín ngưỡng phổ thông này tuy không phát xuất từ kinh điển căn bản song rất thích hợp với những người hằng mong cầu một đời sống an lành ở kiếp sau.

Tuy nhiên nếu Phật tử chỉ lo cho được sanh về thế giới Cực Lạc sau khi chết mà lãng quên hay chán ngán thế giới mình đang sống vì cho là ô uế, đau khổ, không đáng quan tâm thì đó là quan niệm không hợp với Phật lý.

Thế giới này quả thật là ô uế và đau khổ, điều này không ai có thể phủ nhận. Nhưng câu hỏi mà bất cứ người nào có ý thức xã hội cũng đặt ra là tại sao Phật tử không áp dụng Phật lý để cải tạo, thanh tịnh hóa, và biến nó thành thế giới thanh tịnh an lành? Đây cũng là vấn đề mà nhiều nhà Phật học đã đề cập: Tịnh độ nhân gian mà đại biểu là Tịnh độ Di Lặc.

Trong khi văn chương Tịnh độ Di Đà, Dược Sư ca ngợi những thế giới an lành xa xôi ngoài trái đất thì văn chương Tịnh độ Di Lặc khuyến khích xây dựng thế giới an lành ngay trong môi trường mà loài người đang sinh sống.

Theo kinh điển thì trong tương lai, Bồ Tát Di Lặc (Maitreya) sẽ xuất hiện trên trái đất này tu hành thành Phật và cộng tác với Chuyển Luân Vương (Cakravartin) để cải tạo thế giới này thành Tịnh độ về phương diện vật chất cũng như tinh thần. Về vật chất thì đất sẽ sạch gai góc và cỏ mềm như nhung trải khắp nơi, cây cối xanh tươi, hoa quả thanh mậu, đường sá phẳng phiu, bóng lộn, phố phường đông đúc, nhà cửa thành quách được xây dựng bằng nhiều loại đá quí, âm nhạc hòa vang khắp nơi: về tinh thần thì dân chúng sống lâu, hòa hài, an lành, không có chiến tranh, áo cơm đầy đủ, của cải dư dả, nhà cửa khang trang nơi đại tiểu tiện đều thanh khiết, mọi người thông hiểu nhau bằng một thứ ngôn ngữ, thương yêu nhau như anh em, đời sống đạo  đức rất cao, không có giết chóc, trộm cướp nên không có tù tội và nhà lao v.v…(xem Tăng Nhất A Hàm, 44, Taishô, II, 787; Kinh Di Lặc Hạ Sanh, Diệu Không dịch).

Đọc qua những sự mô tả về cảnh sống lý tưởng trên chúng ta liên tưởng đến một phần nào tiến bộ vật chất nhờ khoa học kỹ thuật mang lại của thế giới hiện đại. Nhưng về phương diện tinh thần thì có lẽ phải đợi một thời gian  lâu nữa, thế giới này nếu có thay đổi về phương diện văn hóa, đạo đức mới mong có thể theo kịp Tịnh độ Di Lặc.

Điều cần lưu ý là tư tưởng Tịnh độ Di Lặc này được ghi chép trong kinh điển nguyên thủy và có thể chất phác hơn những tư tưởng Tịnh độ khác được phát triển về sau như tư tưởng Tịnh độ Di Đà, Tịnh Độ Dược Sư. Cũng vì vậy mà nó có vẻ thực tế, chất phác, và gần gũi với thế giới mà chúng ta đang sống. Do đó nó cũng thiết tha với những người có lý tưởng muốn cải tạo và xây dựng xã hội ngày nay, nhất là về phương diện văn hóa, đạo đức.

Có một điều làm cho chúng ta thắc mắc là vấn đề thời gian: bao lâu nữa thì Tịnh độ Di Lặc mới xuất hiện? Theo kinh điển thì còn lâu, có thể là cả triệu năm nữa. Con số thời gian ở đây phải được hiểu như là con số tượng trưng mà chúng ta thường thấy trong kinh điển được ghi chép ở Ấn Độ. Vì thế không nên câu nệ vào con số mà nên  nắm lấy ý nghĩa: cảnh sống lý tưởng sẽ xuất hiện trong  tương lai khi mọi người trên trái đất này đều giác ngộ chân lý, có tinh thần lợi tha và nhất là quyết tâm cùng nhau thực hiện cuộc sống đáng yêu đáng sống của loài người.

Điểm mâu thuẫn khác cũng cần được giải quyết là làm sao chúng ta có thể đợi chờ một cảnh sống lý tưởng trong khi mục đích của đạo Phật là giải thoát sanh tử. Theo thiển ý: đối với người có đại nguyện lớn muốn kiến tạo Tịnh độ nhân gian thì số thời gian sống chết, lăn lộn để thực hành đạo Bồ Tát trên đường giác ngộ, dưới phục vụ chúng sanh - chẳng có gì là quan trọng. Bởi chúng ta không thể xa lìa chúng sanh mà độ được chúng sanh. Và dầu cho có chứng Niết Bàn rồi cũng phải trở lại độ chúng sanh trong luân hồi. Hơn nữa vì nguyện mà ở trong luân hồi thì không bao giờ khổ (khổ chăng vì nghiệp mà luân hồi). Lý "Niết Bàn luân hồi" giúp chúng ta nhẫn nhục, hoan hỉ, tự tại trong công cuộc kiến tạo Tịnh độ nhân gian. Đạo lý này cũng giúp chúng ta phá bỏ những tư tưởng sợ sệt chán ghét, và bi quan đối với cuộc đời.

Nói đến Tịnh độ nhân gian hay Tịnh độ Di Lặc tức là nói đến niềm hy vọng lớn về sự xuất hiện một mùa Xuân an lành mà mỗi chúng ta sẽ là một Di Lặc kiến tạo cảnh sống lý tưởng bằng cách liên tục, tích cực tham gia công tác kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa v.v… để thực hiện một uớc mơ cộng đồng cao đẹp của loài người: Biến thế giới ô uế khổ đau này thành thế giới thanh tịnh an lành.

 

 

Đây là Tịnh độ

Tịnh độ là đây

Mỉm cười chánh niệm

An trú hôm nay

 

Bụt là lá chín

Pháp là mây bay

Tăng thân khắp chốn

Quê hương nơi này

 

Thở vào hoa nở

Thở ra trúc lay

Tâm không bận rộn

Tiêu dao tháng ngày…

Thích Nhất Hạnh

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/08/2013(Xem: 11666)
Hòa thượng họ Lâm, sau đổi họ Nguyễn, sinh năm Bính Thìn (1916), tại thôn Mỹ Trung, xã Hòa Thịnh, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ ông Lâm Du Nhân pháp danh Tâm Nghĩa, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Mua pháp danh Tâm Đắc. Hai cụ thân sinh, do có túc duyên với Tam bảo nhiều đời, nên đã hoan hỷ cho Hòa thượng xuất gia từ nhỏ và đã phát tâm mua đất kiến tạo ngôi tự viện Phi Lai tại xã Hòa Thịnh, tạo thuận duyên tu học cho Hòa hượng. Hòa thượng có 7 anh em, 5 trai 2 gái, Hòa thượng là người con thứ 2 trong gia đình. Cả gia đình đều trực tiếp tham gia vào sự nghiệp Cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc.
02/08/2013(Xem: 27479)
Do tuổi cao sức yếu đã an nhiên thị tịch tại trụ xứ chùa Dược Sư, thôn Phú An, xã Phú Hội, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, vào lúc 11 giờ 56 phút, ngày 24 tháng 6 năm Quý Tỵ (thứ Tư, 31/7/2013). Trụ thế 94 năm, 60 hạ lạp.
01/08/2013(Xem: 24415)
Bồ đề chủng tử diệu tâm Ứng thân đồng ấu nẫy mầm thiên lương Đức Thầy bình dị chơn phương Phụng thờ Phật Tổ hạnh thường khiêm cung.
30/07/2013(Xem: 16943)
Cố Thượng tọa THÍCH CHÁNH LẠC, thế danh Nguyễn Ngọc Quang, Pháp danh Nguyên An, hiệu Chánh Lạc, sinh ngày 07 tháng 12 năm Canh Dần (1950) trong một gia đình có truyền thống Phật giáo, tại thôn Khái Ðông, xã Hòa Hải huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam, nay là phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Ðà Nẵng, thuộc danh lam thắng tích Ngũ Hành Sơn - Non Nước.
19/07/2013(Xem: 14383)
Phật Giáo Việt Nam có sự gắn bó như nước và sữa với dân tộc và đất nước Việt Nam suốt quá trình lịch sử tồn tại và phát triển trên hai ngàn năm qua. Đó là sự thật lịch sử không thể phủ nhận. Trong quá trình tồn tại và phát triển đó, Phật Giáo Việt Nam đã trải qua nhiều cơn thăng trầm, vinh nhục. Nhưng chưa bao giờ Phật Giáo Việt Nam đánh mất bản nguyện hoằng dương Chánh Pháp giải khổ quần sanh và góp phần giữ nước và phát triển đất nước.
13/07/2013(Xem: 24820)
Linh Sơn Chốn Tổ Nguồn Tâm
30/06/2013(Xem: 12545)
Năm nay Sư Ông Nhất Hạnh đã 87 tuổi. Nếu tính từ ngày xuất gia hồi 16 tuổi tới nay thì người đã có 71 tuổi hạ. Vậy mà Sư Ông vẫn chưa nghỉ một ngày, cứ mãi miết làm việc với một hạnh nguyện duy nhất là "Chuyển hóa khổ đau thành hạnh phúc". Nếu không viết sách thì Sư Ông Sư Ông cũng dành thì giờ viết thư pháp, biến những lời Bụt dạy thành những câu thiền ngữ cho mọi người thỉnh về nhà, treo lên và tự nhắc mình tu tập như có thầy luôn ở phòng khách nhà mình, nhắc mình nhớ làm chủ thân tâm, nắm giữ chánh niệm, ý thức sự có mặt của người mình thương, vừa có tiền cho quỹ Hiểu & Thương của Làng nuôi dạy trẻ em nghèo đói ở Việt Nam và Ấn Độ.
23/06/2013(Xem: 10295)
Nam Mô Thanh Tịnh Pháp Thân TỲ LÔ GIÁ NA PHẬT Nam Mô Viên Mãn Báo Thân LÔ XÁ NA PHẬT Nam Mô Thiên Bá Ức Hóa Thân THÍCH CA MÂU NI PHẬT Nam Mô Vị Pháp Thiêu Thân THÍCH QUẢNG ĐỨC BỒ TÁT Nam Mô Đại Hùng, Đại Lực CHƯ BỒ TÁT Vị Pháp Thiêu Thân
22/06/2013(Xem: 11951)
Đã tròn nửa thế kỷ trôi qua kể từ ngày Hòa Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu. Thời gian đủ để chúng ta bình tâm nhìn lại sự kiện lịch sử nầy để rút ra bài học cho những bước tiến tương lai của dân tộc và cho chính mỗi con người nhỏ bé chúng ta trong cõi ta bà mê muội nầy.
17/06/2013(Xem: 14076)
1963-2013! Năm mươi năm đã trôi qua. Nửa thế kỷ là thời gian đủ dài để chúng ta có thể an nhiên nhìn lại quá khứ hầu rút ra được những bài học cho tương lai. Đối với Phật tử thì đó là một bài học về đạo lực vận dụng giữa trí tuệ và từ bi, giữa hạnh nhẫn nhục và lực đại hùng một cách hài hòa và vì lợi lạc của chúng sinh. Còn đối với tương lai dân tộc ta thì Pháp nạn Phật giáo năm 1963 đã cống hiến cho chúng ta một bài học lớn về niềm khao khát và lòng tôn trọng một cuộc sống cộng sinh trong một môi trường hòa bình, an lạc.