Tịnh Độ Nhân Gian

16/02/202308:12(Xem: 4377)
Tịnh Độ Nhân Gian

Tịnh Độ Nhân Gian

Thích Thiện Châu

 

 

 

Phần đông Phật tử Việt Nam tu dưỡng theo pháp môn Tịnh độ A Di Đà nên thường nhất tâm niệm Phật cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc. Tín ngưỡng phổ thông này tuy không phát xuất từ kinh điển căn bản song rất thích hợp với những người hằng mong cầu một đời sống an lành ở kiếp sau.

Tuy nhiên nếu Phật tử chỉ lo cho được sanh về thế giới Cực Lạc sau khi chết mà lãng quên hay chán ngán thế giới mình đang sống vì cho là ô uế, đau khổ, không đáng quan tâm thì đó là quan niệm không hợp với Phật lý.

Thế giới này quả thật là ô uế và đau khổ, điều này không ai có thể phủ nhận. Nhưng câu hỏi mà bất cứ người nào có ý thức xã hội cũng đặt ra là tại sao Phật tử không áp dụng Phật lý để cải tạo, thanh tịnh hóa, và biến nó thành thế giới thanh tịnh an lành? Đây cũng là vấn đề mà nhiều nhà Phật học đã đề cập: Tịnh độ nhân gian mà đại biểu là Tịnh độ Di Lặc.

Trong khi văn chương Tịnh độ Di Đà, Dược Sư ca ngợi những thế giới an lành xa xôi ngoài trái đất thì văn chương Tịnh độ Di Lặc khuyến khích xây dựng thế giới an lành ngay trong môi trường mà loài người đang sinh sống.

Theo kinh điển thì trong tương lai, Bồ Tát Di Lặc (Maitreya) sẽ xuất hiện trên trái đất này tu hành thành Phật và cộng tác với Chuyển Luân Vương (Cakravartin) để cải tạo thế giới này thành Tịnh độ về phương diện vật chất cũng như tinh thần. Về vật chất thì đất sẽ sạch gai góc và cỏ mềm như nhung trải khắp nơi, cây cối xanh tươi, hoa quả thanh mậu, đường sá phẳng phiu, bóng lộn, phố phường đông đúc, nhà cửa thành quách được xây dựng bằng nhiều loại đá quí, âm nhạc hòa vang khắp nơi: về tinh thần thì dân chúng sống lâu, hòa hài, an lành, không có chiến tranh, áo cơm đầy đủ, của cải dư dả, nhà cửa khang trang nơi đại tiểu tiện đều thanh khiết, mọi người thông hiểu nhau bằng một thứ ngôn ngữ, thương yêu nhau như anh em, đời sống đạo  đức rất cao, không có giết chóc, trộm cướp nên không có tù tội và nhà lao v.v…(xem Tăng Nhất A Hàm, 44, Taishô, II, 787; Kinh Di Lặc Hạ Sanh, Diệu Không dịch).

Đọc qua những sự mô tả về cảnh sống lý tưởng trên chúng ta liên tưởng đến một phần nào tiến bộ vật chất nhờ khoa học kỹ thuật mang lại của thế giới hiện đại. Nhưng về phương diện tinh thần thì có lẽ phải đợi một thời gian  lâu nữa, thế giới này nếu có thay đổi về phương diện văn hóa, đạo đức mới mong có thể theo kịp Tịnh độ Di Lặc.

Điều cần lưu ý là tư tưởng Tịnh độ Di Lặc này được ghi chép trong kinh điển nguyên thủy và có thể chất phác hơn những tư tưởng Tịnh độ khác được phát triển về sau như tư tưởng Tịnh độ Di Đà, Tịnh Độ Dược Sư. Cũng vì vậy mà nó có vẻ thực tế, chất phác, và gần gũi với thế giới mà chúng ta đang sống. Do đó nó cũng thiết tha với những người có lý tưởng muốn cải tạo và xây dựng xã hội ngày nay, nhất là về phương diện văn hóa, đạo đức.

Có một điều làm cho chúng ta thắc mắc là vấn đề thời gian: bao lâu nữa thì Tịnh độ Di Lặc mới xuất hiện? Theo kinh điển thì còn lâu, có thể là cả triệu năm nữa. Con số thời gian ở đây phải được hiểu như là con số tượng trưng mà chúng ta thường thấy trong kinh điển được ghi chép ở Ấn Độ. Vì thế không nên câu nệ vào con số mà nên  nắm lấy ý nghĩa: cảnh sống lý tưởng sẽ xuất hiện trong  tương lai khi mọi người trên trái đất này đều giác ngộ chân lý, có tinh thần lợi tha và nhất là quyết tâm cùng nhau thực hiện cuộc sống đáng yêu đáng sống của loài người.

Điểm mâu thuẫn khác cũng cần được giải quyết là làm sao chúng ta có thể đợi chờ một cảnh sống lý tưởng trong khi mục đích của đạo Phật là giải thoát sanh tử. Theo thiển ý: đối với người có đại nguyện lớn muốn kiến tạo Tịnh độ nhân gian thì số thời gian sống chết, lăn lộn để thực hành đạo Bồ Tát trên đường giác ngộ, dưới phục vụ chúng sanh - chẳng có gì là quan trọng. Bởi chúng ta không thể xa lìa chúng sanh mà độ được chúng sanh. Và dầu cho có chứng Niết Bàn rồi cũng phải trở lại độ chúng sanh trong luân hồi. Hơn nữa vì nguyện mà ở trong luân hồi thì không bao giờ khổ (khổ chăng vì nghiệp mà luân hồi). Lý "Niết Bàn luân hồi" giúp chúng ta nhẫn nhục, hoan hỉ, tự tại trong công cuộc kiến tạo Tịnh độ nhân gian. Đạo lý này cũng giúp chúng ta phá bỏ những tư tưởng sợ sệt chán ghét, và bi quan đối với cuộc đời.

Nói đến Tịnh độ nhân gian hay Tịnh độ Di Lặc tức là nói đến niềm hy vọng lớn về sự xuất hiện một mùa Xuân an lành mà mỗi chúng ta sẽ là một Di Lặc kiến tạo cảnh sống lý tưởng bằng cách liên tục, tích cực tham gia công tác kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa v.v… để thực hiện một uớc mơ cộng đồng cao đẹp của loài người: Biến thế giới ô uế khổ đau này thành thế giới thanh tịnh an lành.

 

 

Đây là Tịnh độ

Tịnh độ là đây

Mỉm cười chánh niệm

An trú hôm nay

 

Bụt là lá chín

Pháp là mây bay

Tăng thân khắp chốn

Quê hương nơi này

 

Thở vào hoa nở

Thở ra trúc lay

Tâm không bận rộn

Tiêu dao tháng ngày…

Thích Nhất Hạnh

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/10/2019(Xem: 7105)
CỐ TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ HẢI Thành viên Hội Đồng Chứng Minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Quảng Trị Nguyên Phó trưởng ban Thường trực BTS GHPGVN tỉnh Quảng Trị Trú trì Tổ đình Sắc tứ Tịnh Quang – Quảng Trị; Tổ đình Hải Đức – Huế THÂN THẾ Hòa thượng họ Võ, húy Viết Hữu, nối pháp dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 41, pháp danh Không Cẩn, tự Trí Hải. Hòa thượng sinh năm Tân Tỵ [1941] tại thôn Phương Lang, xã Hải Ba, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Hòa Thượng xuất thân trong một gia đình nhiều đời thâm tín Tam Bảo, thân phụ là Cụ ông Võ Viết Linh – pháp danh Nguyên Minh, thân mẫu là Cụ bà Nguyễn Thị Diệm – pháp danh Nguyên Huệ. Ngài là người con út trong gia đình có 8 anh chị em.
20/10/2019(Xem: 11326)
Hòa thượng là người làng Triều Thủy, xã Phú An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tên thật là Nguyễn Đình Hiệp, sinh năm 1938, mất năm 1973 tại Sài Gòn. Sinh trong một gia đình thuần Phật có 9 anh em 4 trai 5 gái mà Hòa thượng là con út. Thân phụ là cụ Nguyễn Đình Thắng, pháp danh Tâm Minh, tự Diệu Dụng. Thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Lang, pháp danh Tâm Lạc.
20/10/2019(Xem: 7665)
Cố Đại Lão Hoà Thượng Thích Hộ Giác (1928 – 2012) – Phó Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. – Tăng Thống Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam. – Nguyên Tổng Thư Ký Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam. – Nguyên Thành Viên Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo. – Nguyên Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Cư Sỹ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. – Nguyên Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Hoằng Pháp Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. – Nguyên Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Xã Hội Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. – Nguyên Phó Giám Đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. – Nguyên Tổng Thư Ký Hội Đồng Lãnh Đạo GHPGVNTN Hải Ngoại. – Nguyên Chủ Tịch Văn Phòng II Viện Hoá Đạo GHPGVNTN Hải Ngoại Tại Hoa Kỳ. – Nguyên Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam Tại Hoa Kỳ. – Viện chủ Tổ Đình (PHV) Pháp Quang; chùa Nam Tông; chùa Xá Lợi Phật Đài (Việt Nam). – Viện chủ Pháp Luân Tự, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ.
20/10/2019(Xem: 7119)
Hòa thượng đạo hiệu Thích Minh Cảnh, thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 40. Hòa thượng thế danh Nguyễn Hữu Danh, sinh ngày 12-11-Đinh Sửu (1937) tại làng Mỹ Tho, quận Cao Lãnh (Đồng Tháp). Hòa thượng xuất thân trong gia đình kính tin Tam bảo, thân phụ là cụ ông Nguyễn Minh Biện, pháp danh Minh Chiếu, thân mẫu là cụ bà Trần Thị Mậu, pháp danh Diệu Thiệt. Hòa thượng là người con út, là con thứ 9 (miền Nam gọi là thứ 10) trong gia đình có 9 anh chị em, với bốn người anh, chị xuất gia tu học.
20/10/2019(Xem: 7501)
TIỂU SỬ HÒA THƯỢNG GIỚI NGHIÊM (THITASÌLA MAHATHERA) (1921 - 1984) Nguyên: - Tăng Thống Giáo Hội Tăng Già Phật Giáo Nguyên Thủy (Theravàda) Việt Nam. - Thành viên Hội Đồng Chứng Minh Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. - Phó Chủ Tịch Hội Đồng Trị Sự Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. - Phó Chủ Tịch Hội Hữu Nghị Việt Nam - Campuchia.
20/10/2019(Xem: 27607)
Hòa thượng Giác Khang thế danh Tô Văn Vinh sinh năm 1941 tại tỉnh Bạc Liêu. Thân sinh là cụ ông Tô Khanh. Thân mẫu là cụ bà Trần Thị Vén. Gia đình có 5 trai, 5 gái. Hòa thượng là con thứ 8 trong gia đình. Hòa thượng tốt nghiệp Tú Tài và học Cao đẳng Sư phạm. Ra trường đi dạy học ở Cái Côn – Cần Thơ.
20/10/2019(Xem: 5991)
Hòa Thượng Thích Huệ Quang (1927 - 2009) - Thành viên Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam - Chứng minh Ban trị sự Phật giáo tỉnh Khánh Hòa - Huynh Trưởng Môn phong Tổ đình Nghĩa Phương - Viện chủ Chùa Đông Phước, Phước Long, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
20/10/2019(Xem: 8009)
Hoà thượng Thượng HOÀN Hạ QUAN, thế danh Phạm Ngọc Thơ. Pháp danh NHƯ CỤ THIỆN. Pháp tự GIẢI TOÀN NĂNG. Pháp hiệu THÍCH HOÀN QUAN. Sinh ngày 16-09-1928 (Năm Mậu Thìn) tại làng Phước Long, nay là thôn Hoà Bình xã Nghĩa Hoà huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Song thân của Ngài là Phạm Công Phạm Khánh Lâm và Cụ bà là Trần Thị Thưởng. Cụ Ông và Cụ bà đã hạ sinh được 6 người con, gồm 2 trai 4 gái, Ngài là người con thứ 5 trong gia đình.
20/10/2019(Xem: 5182)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc. Năm 21 tuổi (1916) nhận thấy cảnh thế phù du, cuộc đời là vô thường, giả tạm, Ngài quy y thọ giới tại chùa Cảnh Tiên. Năm 22 tuổi (1917) Ngài được nhập chúng tu học ở chùa Quang Lộc trong tỉnh, được ban pháp danh Chơn Húy. Sẵn có căn bản Hán học vững chắc, Ngài thâm nhập kinh tạng rất mau chóng. Ngài lần lượt thọ giới Sa Di và nghiên cứu Kinh, Luật, Luận rồi thọ giới Tỳ Kheo Bồ Tát với pháp hiệu Khánh Anh. Khi tròn 30 tuổi, Ngài trở thành một vị giảng sư Phật học nổi tiếng.