Nghi Thức Lễ Phật (do HT Thích Thiện Châu biên soạn, Phật tử Diệu Danh diễn đọc)

16/02/202308:04(Xem: 4339)
Nghi Thức Lễ Phật (do HT Thích Thiện Châu biên soạn, Phật tử Diệu Danh diễn đọc)


nghi thuc le phat-thich thien chau
NGHI THỨC LỄ PHẬT 
TRÚC LÂM
HT Thích Thiện Châu biên soạn
Phật tử Diệu Danh diễn đọc




 

Dâng hương

O O O

 

Nguyện đem lòng thành kính

Gửi theo vầng mây hương

Phưởng phất khắp mười phương

Cúng dường ba ngôi báu

Thề trọn đời sống đạo

Cùng tất cả chúng sanh

Như chính pháp tu hành

Phật từ bi gia hộ

Tâm bồ đề kiên cố

Xa biển khổ nguồn mê

Chóng qua về bờ giác.  O O O

 

Lễ Phật

 

Đức Thế Tôn cao cả,

Ba cõi chẳng ai bằng,

Thầy dạy khắp trời, người,

Cha lành của bốn loại,

Trong một niệm quy y,

Dứt sạch nghiệp ba kỳ,

Ca ngợi và tán thán,

Ức kiếp không cùng tận. O

 

Chí tâm kính lễ Phật Pháp Tăng trong quá khứ, hiện tại, vị lai ở khắp mười phương. O (1 lạy)

 

Chí tâm kính lễ Phật Thích Ca Mâu Ni giáo chủ cõi Ta bà, Bồ tát Văn Thù Sư Lợi, Bồ tát Đại Hạnh Phổ Hiền và hết thảy thánh hiền trong pháp hội. O (1 lạy)

 

Chí tâm kính lễ Phật Di Lặc sẽ giáng sinh và hết thảy Bồ tát thanh tịnh. O (1 lạy)

 

 

TÁN THÁN PHẬT

Vadanâ

 

Chủ lễ đọc trước ; đại chúng đọc sau

 

Kính lễ đức Thế Tôn, Ngài là bậc giải thoát, giác ngộ hoàn toàn. O (3lần)

Namo tassa Bhagavato Arahato Sammâ Sambuddhassa.

 

BA QUY Y

Tisarana

 

Con xin quy y Phật

Con xin quy y Pháp

     Con xin quy y Tăng. O

 Buddham saranam gacchâmi

 Dhamman saranam gacchâmi

    Sangham saranam gacchâmi. O

 

Lần thứ hai con xin quy  Phật

   Lần thứ hai con xin quy y Pháp

        Lần thứ hai con xin quy y Tăng. O

Dutiyampi Buddham saranam gacchâmi

 Dutiyampi Dhammam saranam gacchâmi

     Dutiyampi Sangham saranam Gacchâmi. O

 

Lần thứ ba con xin quy y Phật

Lần thứ ba con xin quy y Pháp

      Lần thứ ba con xin quy y Tăng. O

Tatiyampi Buddham saranam gacchâmi

Tatiyampi Dhammam saranam gacchâmi

Tatiyampi Sangham saranam gacchâmi. O

 

 

NĂM GIỚI

Pancasila

 

Chủ lễ đọc trước ; đại chúng đọc sau

 

Con nguyện giữ giới không sát hại

Pânâtipâtâ veramani sikkhâpadam samâdiyâmi

 

Con nguyện giữ giới không trộm cướp

Adinnâdânâ veramani sikkhâpadam samâdiyâmi

 

 Con nguyện giữ giới không tà hạnh

 Kâmesu micchâcârâ veramani sikkâpadam samâdiyâmi

 

Con nguyện giữ giới không dối trá

Musâvâdâ veramani sikkhâpadam samâdiyâmi

 

Con nguyện giữ giới không say rượu

Surâ-meraya-majja-pamâdatthânâ veramani sikkhâpa-dam sâmdiyâmi

                                                  O O O

 

 

CẦU NGUYỆN

 Mọi người cùng quỳ, chủ lễ đọc :

 

Nam mô Thập phương thường trụ Tam bảo.

Giờ đây, chúng con chân thành kính lễ các Đức Như Lai, các vị Bồ tát, La hán thường trú trong mười phương ; chúng con nhất tâm đọc tụng kinh điển nhiệm mầu của đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Chúng con nguyện noi theo chính pháp, tu dưỡng thân tâm, làm điều phước thiện và hướng về giác ngộ giải thoát. O

Ngưỡng mong các đức Như Lai, các vị Bồ tát, La hán từ bi hộ niệm cho chúng con : phiền não dứt sạch, nghiệp chướng tiêu trừ, xa lìa khổ nạn, thân tâm thường được an lành, tâm bồ đề ngày càng kiên cố, hạnh nguyện giác ngộ cho mình và cho người đuề được trọn vẹn, để cùng tất cả chúng sinh chứng đạt chính đẳng chính giác.O

Ngưỡng mong đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật từ bi chứng minh, hộ niệm. O

Ngưỡng mong các đức Như Lai, các vị Bồ tát, La hán thường trú trong mười phương từ bi chứng minh, hộ niệm. O

 

Nếu thuận tiện thì cử tán một bài tán hương.

Nếu không thì cử chuông mõ đại chúng đồng tụng.

 

SÁM HỐI PHÁT NGUYỆN

 

Đệ tử kính lạy,

Đức Phật Thích Ca.

Giáo chủ Ta bà,

Mười phương chư Phật,

Vô thượng Phật Pháp,

Và Thánh Hiền Tăng.

Đệ tử lâu đời lâu kiếp,

Nghiệp chướng nặng nề,

Tham giận kiêu căng,

Si mê lầm lạc,

Ngày nay nhờ Phật,

Biết sự lỗi lầm,

Thành tâm sám hối. O

Thề tránh điều dữ,

Nguyện làm việc lành.

Ngưỡng mong ơn Phật,

Từ bi gia hộ,

Thân không tật bệnh,

Tâm không phiền não.

Hằng ngày an vui tu tập,

Phép Phật nhiệm mầu,

Để mau ra khỏi luân hồi,

Minh tâm kiến tính,

Trí tuệ sáng suốt,

Thần thông tự tại,

Đặng cứu độ các bậc tôn trưởng,

Cha mẹ anh em,

Thân bằng quyền thuộc,

Cùng tất cả chúng sinh,

Đồng thành Phật đạo. O O O

 

KỆ KHAI KINH

 

Thăm thẳm cao siêu pháp nhiệm mầu

Trăm ngàn vạn kiếp dễ tìm đâu

Nay con nghe thấy xin trì tụng

Nguyện hiểu Như Lai nghĩa rộng sâu.

 

(Trên đây là phần khai kinh, quí Phật Tử muốn tụng kinh nào tùy theo sự cầu nguyện, tiếp theo đây là phần hồi hướng)

 

TÂM KINH ĐẠI TRÍ HUỆ SIÊU VIỆT

 

Bồ tát Quán tuệ tại, khi tu chứng đại trí tuệ siêu việt, thấy rõ năm uẩn đều không, vượt hết thả khổ ách.

Này Xá Lợi Tử! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác Sắc; sắc tức là không, không tức là sắc; thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như vậy.

Xá Lợi Tử! Thể không của các pháp là không sinh, không diệt, không nhiễm, không sạch, không thêm, không bớt. Vì thế trong chân không, không có sắc thọ tưởng hành thức, Không nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý. Không sắc thanh hương vị xúc pháp. Không nhãn giới cho đến ý thức giới. Không vô minh, cũng không hết vô minh; cho đến không già chết, cũng không hết già chết: Không khổ, tập, diệt, đạo, không quán trí, cũng không chứng đạt, vì không gì để chứng.

Bồ tát nương trí tuệ siêu việt nên tâm không vướng ngại; vì không vướng ngại nên không sợ hãi, xa lìa hết thảy điên đảo mộng tưởng, rốt ráo đạt đến Niết Bàn. Chư Phật ba đời nương trí tuệ siêu việt nên được giác ngộ hoàn toàn, chân chính và cao nhất.

Vì thế nên biết rằng trí tuệ siêu việt là sức lớn, sức sáng, sức cao nhất, sức không gì bằng, hay trừ hết thảy khổ đau, chân thật không sai. Cho nên từ trí tuệ  siêu việt rút ra tinh yếu như vầy:

Giải thoát, giải thoát, đã giải thoát, đã cùng giải thoát, giác ngộ hoàn toàn.

 

BỐN NGUYỆN LỚN

 

Chúng sanh không số lượng, thề nguyện đề độ khắp

Phiền não không cùng tận, thề nguyện đều dứt sạch.

       Pháp môn không kể xiết, thề nguyện đều tu học.

       Phật đạo không gì hơn, thề nguyện được trọn thành. O

 

BA TỰ QUY Y

 

Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sinh hiểu rõ đạo lớn, phát tâm vô thượng. O (1 lạy)

Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sinh vào sâu kinh tạng, trí tuệ như biển. O  ( 1 lạy)

Tự quy  Tăng, xin nguyện chúng sinh thống lý đại chúng, hết thảy không ngại. O  (1 lạy)

 

HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC

 

Nguyện đem công đức này,

  Hướng về khắp tất cả,

   Đệ tử và chúng sinh,

   Đều trọn thành Phật đạo.

 

O O O

 

Chú thích: O = tiếng chuông

Sau phần tụng niệm nên ngồi thiền theo phương pháp Quán niệm hơi thở vào và hơi thở ra (Anâpânasati)

 

PHƯƠNG PHÁP QUÁN NIỆM

HƠI THỞ VÀO HƠI THỞ RA

 

Phương pháp Quán niệm hơi thở vào - hơi thở ra gồm 16 chủ đề quy vào 4 nhóm: I. Quán niệm về thân, II. Quán niệm về thọ, III. Quán niệm về tâm. IV. Quán niệm về Pháp. Do đó, thiền sinh nếu có thời giờ thì tuần tự tu tập theo 16 chủ đề. Nếu không, thì ít nhất tu tập 4 chủ đề đầu và chủ đề 3.

 

I- Bốn đề tài về Thân:

 

1-    Thở vô dài, tự biết: Tôi thở vô dài,

     Thở ra dài, tự biết: Tôi thở ra dài.

 

2-    Thở vô ngắn, tự biết: Tôi thở vô ngắn,

     Thở ra ngắn, tự biết: Tôi thở ra ngắn.

 

3-    Cảm giác toàn thân, tôi thở vô,

     Cảm giác toàn thân, tôi thở ra.

 

4-    An tịnh thân hành, tôi thở vô,

     An tịnh thân hành, tôi thở ra.

 

II- Bốn đề tài về Thọ:

 

5-    Cảm giác hỷ thọ, tôi thở vô,

     Cảm giác hỷ thọ, tôi thở ra.

 

6-    Cảm giác lạc thọ, tôi thở vô,

     Cảm giác lạc thọ, tôi thở ra.

 

7-    Cảm giác tâm hành, tôi thở vô,

     Cảm giác tâm hành, tôi thở ra.

 

8-    An tịnh tâm hành, tôi thở vô,

     An tịnh tâm hành, tôi thở ra.

 

III- Bốn đề tài về Tâm:

 

9-    Cảm giác về tâm, tôi thở vô,

     Cảm giác về tâm, tôi thở ra.

10   -Với tâm hân hoan, tôi thở vô,

  Với tâm hân hoan, tôi thở ra.

 

11   -Với tâm định tĩnh, tôi thở vô,

 Với tâm định tĩnh, tôi thở ra.

 

12   - Với tâm giải thoát, tôi thở vô,

  Với tâm giải thoát, tôi thở ra.

 

IV- Bốn đề tài về Pháp:

 

13   - Quán vô thường, tôi thở vô,

   Quán vô thường, tôi thở ra.

 

14   - Quán ly tham, tôi thở vô,

  Quán ly tham, tôi thở ra.

 

15- Quán đoạn diệt, tôi thở vô,

 Quán đoạn diệt, tôi thở ra.

 

16- Quán từ bỏ, tôi thở vô,

      Quán từ bỏ, tôi thở ra.

 

Đặc điểm của phương pháp này là: nhóm I đưa đến tĩnh chỉ (samatha), nhóm II đưa vào ngưỡng cửa của minh sát, nhóm III phát triển minh sát. Nhóm IV thành tựu tuệ quán (vipassana)

 

 

 buddha-5

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/11/2014(Xem: 7888)
Hòa Thượng Thích Tâm Hướng (1923 – 1997) Hoà thượng Tâm Hướng Pháp danh Nguyên Nguyện, hiệu Huyền Luận, thế danh Dương Xuân Đệ, đời thứ 44 dòng thiền Lâm Tế. Ngài sinh ngày 24 tháng 11 năm Quý Hợi (31/12/1923), tại làng Hương Cần, xã Hương Toàn, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế trong một gia đình thâm tín Tam Bảo. Thân phụ là cụ Dương Xuân Ngô và thân mẫu là cụ bà Trần Thị Đặng.
01/10/2014(Xem: 17165)
Nhân Vật Phật Giáo Thế Giới, do TT Thích Nguyên Tạng biên soạn từ 1990
01/10/2014(Xem: 10096)
Pháp danh : Trừng Thành Pháp tự : Chí Thông, Pháp hiệu : Thích Giác Tiên. Thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 42 Thế danh : Ngài họ Nguyễn Duy húy là Quyển. Thọ sanh năm Canh thìn, niên hiệu Tự Đức đời thứ 33 (1879). Chánh quán làng Giạ Lệ Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Năm 1883, lên bốn tuổi thì song thân đều mất. Ngài được ông bà bác đồng tộc đem về nuôi dưỡng. Nhờ bẩm chất thông minh nên thân thuộc cho theo Nho học một thời gian. Nhận thấy giáo lý Phật đà mới là con đường hướng đến cảnh giải thoát ; từ đó, ngài xin với thân thuộc xuất gia đầu Phật. Năm 1890, được 11 tuổi, ngài cầu thọ giáo với tổ Tâm Tịnh.
01/10/2014(Xem: 10330)
Phật Giáo Việt Nam thời cận đại đã viết lên trang lịch sử bằng máu, xương của Chư Tôn Đức Tăng Ni và Phật tử. Dòng lịch sử ấy đã nêu cao tấm gương hy sinh bất khuất trước những đàn áp, bạo lực, súng đạn, nhà tù và lựu đạn. Phải chăng đây là một chặng đường lịch sử oai hùng mà Phật Giáo Việt Nam đã biểu tỏ tinh thần Đại hùng, Đại lực, Đại Từ Bi để vực dậy một nền văn hóa đã bị sụp đổ bởi một chế độ tha hóa, ngoại lai xâm nhập vào quê hương Việt Nam.
01/10/2014(Xem: 11954)
Trên dòng lịch sử Phật giáo Việt Nam thời cận đại của những thập niên 30-40 có bậc Tôn túc của Ni giới xuất hiện, đồng hành với chư Tăng để xiển dương Phật pháp, đào tạo Tăng tài, xây dựng tự viện, giữ gìn giềng mối đạo pháp được bền vững. Bậc Tôn túc của Ni giới ấy là SB Diệu Không, người đã hy hiến cả đời mình cho đời lẫn đạo, SB đã lưu lại cho hậu thế một hành trạng sáng ngời cho đàn hậu học noi gương.
09/09/2014(Xem: 16219)
Hòa Thượng Thích Giác Thông, tục danh Đổ Văn Bé, sinh ngày 18 tháng 2 năm 1939 tại Mỹ Hòa Hưng, Huyện Châu Thành, An Giang, Long Xuyên. Trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân Phụ là Cụ Ông Đổ Nhựt Thăng, Thân Mẫu là Cụ Bà Nguyễn Thị Khiên, Hòa Thuợng là người anh cả trong số 6 anh em ( 3 trai, 3 gái ), được nuôi dưỡng trong một gia đình nông dân hiền lành, có truyền thống đạo đức, nên từ nhỏ Hòa Thượng đã là người sớm có tư chất hiền lương, có tâm thương người mến vật, là con có hiếu với ông bà cha mẹ.
06/09/2014(Xem: 10677)
Không biết đây là lá thư thứ mấy con đã viết mà không bao giờ gởi đi, bởi vì con biết thư có vượt ngàn dặm trùng dương bay về thì Thầy cũng vẫn không cầm đọc được, chứng bịnh Parkinson đã làm cho hai tay Thầy run nhiều quá nhưng nhân mùa Phật Đản nhớ đến Thầy, con lại muốn viết. Thời gian sau này, con vẫn theo dõi thường xuyên sức khỏe của Thầy, con buồn vô cùng, Thầy đã bị bịnh, không thoát khỏi qui luật sinh, lão, bịnh mà con thì ở xa quá, không thăm viếng cận kề Thầy được như ngày xưa nữa !
05/09/2014(Xem: 23465)
Còn đây của báu trong nhà Không là ngọc bảo, không là hoàng kim Bình thường chiếc áo tràng lam Mà sao quý vượt muôn ngàn ngọc châu! Những năm cầu thực dãi dầu Sớm mai tụng niệm, đêm thâu mật trì Dòng đời mãi cuốn con đi Về nương chốn tịnh có Thầy, có Ôn… Kinh truyền ban phát khuyên lơn
02/09/2014(Xem: 14866)
“Đầu lông trùm cả càn khôn thảy Hạt cải bao gồm nhật nguyệt trong” Thiền sư Khánh Hỷ (1067–1142) thuộc dòng thứ 14, thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Sư họ Nguyễn, quê ở Cổ Giao, huyện Long Biên, thuộc dòng tịnh hạnh, từng được vua Lý Thần Tông phong chức Tăng Thống. Sách Thiền Uyển Tập Anh (Anh Tú Vườn Thiền) ghi lại cuộc đối thoại giữa ngài với Thiền Sư Bản Tịch ở chùa Chúc Thánh, nhân dịp ngài cùng với thiền sư đến nhà đàn việt để thọ trai, trên đường đi sư hỏi: Thế nào là ý chỉ của Tổ Sư? Sao thầy lại nghe theo nhân gian làm những chuyện đồng cốt mê hoặc? Bản Tịch đáp: Lời nói ấy đâu phải là không do đồng cốt giáng thần? Sư thưa: Chẳng phải là Hòa Thượng đùa bỡn con hay sao? Bản Tịch đáp: Ta chẳng hề đùa bỡn tí nào! Sư không nắm được ý chỉ của thầy bèn cáo biệt ra đi.
12/08/2014(Xem: 19889)
Cô là 1 nữ sinh trẻ nhất của Sài Gòn đã anh dũng ngã xuống trước họng súng của quân thù tàn bạo trong 1 buổi sáng mùa thu năm 1963 trước cửa chợ Bến Thành, với hàng ngàn sinh viên, học sinh và nhân dân phật tử trước cửa chợ Bến Thành. Và ngay sau đó, Thành hội sinh viên học sinh Sài Gòn đã quyên góp vận động ủng hộ xây bức tượng thờ người nữ học sinh anh hùng tuổi 15 đặt ngay công trường Diên Hồng trước cửa chính chợ Bến Thành ngày nay với sự chứng kiến của hàng ngàn người dân, phật tử thành phố và sinh viên, học sinh.