Kinh Kalama (Do HT. Thích Thiện Châu giảng giải và Phật tử Diệu Danh diễn đọc)

16/02/202307:44(Xem: 3497)
Kinh Kalama (Do HT. Thích Thiện Châu giảng giải và Phật tử Diệu Danh diễn đọc)


kamala
KINH KALAMA

HT. Thích Thiện Châu giảng giải

Phật tử Diệu Danh diễn đọc

 

Giới thiệu:

 

          Kinh Kâlâma thuộc Tăng Chi Bộ (Anguttara Nikâya, tập I, trang 188-193). Nội dung kinh nói lên tinh thần giác ngộ của đạo Phật. Muốn giác ngộ phải có trí tuệ. Trí tuệ là thành quả của sự nghe học (văn) suy nghĩ (tư) và thực nghiệm (tu). Vì thế, nếu nghe lầm và tin mê thì rất có hại. Trái lại, tiếp nhận ý kiến người khác một cách khách quan, quan sát sự vật một cách như thật là điều kiện cần thiết để phát triển trí tuệ.

          Ngoài ra phải biết để lựa chọn, nghĩa là biết từ bỏ và chấp nhận. Từ bỏ những điều bất thiện gây ra đau khổ vì chúng phát xuất từ động cơ tham sân si và thể hiện qua những hành động ngôn ngữ tổn hại như giết người, trộm cướp, tà hạnh dối trá và say sưa. Chấp nhận và thực hiện những điều thiện mang đến hạnh phúc vì chúng phát xuất từ động cơ không tham, không sân, không si và thể hiện qua những hành động ngôn ngữ ích lợi như tôn trọng sự sống, tài sản, hạnh phúc gia đình, sự thật và giữ gìn tâm trí sáng suốt. Đối với mọi người mọi vật thì nên sống đẹp rộng và theo tinh thần từ, bi, hỷ, xả.

          Như vậy, Kinh Kâlâma là kinh nêu cao tinh thần không mê tín, cuồng tín, giáo điều, mà sáng suốt chấp nhận và thực hiện những điều mang đến hạnh phúc an vui cho mình và người.

 

          Những người Kâlâma thăm hỏi Phật.

          Tôi nghe như vầy:

Một thời Thế Tôn, trong lúc du hành trong xứ Kosala với đại chúng Tỳ Kheo, đi vào một thành phố của những người Kâlâma tên là Kesaputta.

Những người Kâlâma ở Kesaputta nghe rằng Sa môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ giòng họ Thích Ca (Sâkya) đã đến Kesaputta. Tiếng tốt về Thế tôn  Gotama được truyền đi như vầy: "Thế tôn thật là bậc A-la-hán, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu Thiên nhân sư, Phật, Thế tôn." (1) Lành thay, nếu chúng ta được yến kiến một vị A-la-hán như vậy.

Rồi những người Kâlâma đi đến nơi Thế tôn. Khi đến nơi, có người kính lễ Thế tôn rồi ngồi một bên; có người nói với Thế tôn những lời chào hỏi, và sau khi chào hỏi thân hữu rồi ngồi một bên; có người chấp tay vái chào rồi ngồi một bên; có người xưng tên họ rồi ngồi một bên; có người im lặng rồi ngồi một bên. Sau khi ngồi một bên, những người Kâlâma ở Kesaputta bạch Thế tôn:

Bạch Thế tôn, có một số Sa môn, Bà la môn đến Kesaputta. Họ thuyết minh và phát huy giáo lý của mình mà bài xích, khinh miệt, chê bai, và xuyên tạc giáo lý người khác. Và Bạch Thế tôn, có một số Sa môn, Bà la môn cũng đến Kesaputta. Họ thuyết minh, phát huy giáo lý của mình mà bài xích, khinh miệt, chê bai và xuyên tạc giáo lý người khác. Đối với họ, bạch Thế tôn, chúng con có điều nghi ngờ, phân vân:

Này các người Kâlâma, đương nhiên phải nghi ngờ, đương nhiên phải phân vân. Đối với điều đáng nghi ngờ thì phân vân khởi lên.

Này các người Kâlâma, đừng tin vì nghe nói lại, đừng tin vì theo phong tục, đừng tin vì nghe tin đồn, đừng tin vì kinh điển truyền tụng, đừng tin vì lý luận, đừng tin vì công thức, đừng tin vì có suy tư đầy đủ về những dữ kiện, đừng tin vì có thẩm sát và chấp nhận lý thuyết, đừng tin vì thấy thích hợp, đừng tin vì Sa môn (2) là thầy mình.

Nhưng này các Kâlâma, khi nào các ngươi tự biết rõ: Các pháp này là bất thiện, các pháp này là đáng chê, các pháp này là bị người trí chỉ trích, các pháp này nếu được thực hiện, chấp nhận thì dẫn đến bất hạnh khổ đau – thời này các người Kâlâma, các ngươi hãy từ bỏ chúng đi.

 

Tham sân si

Này các người Kâlâma, các người nghĩ thế nào, khi tham sân si (*) khởi lên trong lòng người nào thì hạnh phúc hay bất hạnh cho người ấy?

- Bạch Thế tôn, bất hạnh.

Này các người Kâlâma, người tham lam, sân hận, si mê (*) tâm bị tham sân si chinh phục, chiếm cứ, giết sinh vật, lấy của không cho, đi lại với vợ người, nói dối, khuyên bảo người khác cũng làm như vậy – có bị bất hạnh đau khổ kéo dài hay không?

- Bạch Thế tôn, có,

Này các người Kâlâma, các người nghĩ thế nào: các pháp này là thiện hay bất thiện? – Bạch Thế tôn, bất thiện. – Đáng chê hay không đáng chê? – Bạch Thế tôn, đáng chê. – Bị người trí chỉ trích hay được người trí khen ngợi? – Bạch Thế tôn, bị người trí chỉ trích. Nếu được thực hiện, chấp nhận thì có dẫn đến bất hạnh đau khổ. Sự thật là như vậy.

Như vậy, này các người Kâlâma, điều ta vừa  nói với các người: các người Kâlâma, các người đừng tin vì nghe nói lại, đừng tin vì phong tục, đừng tin vì nghe tin đồn, đừng tin vì kinh điển truyền tụng,, đừng tin vì lý luận, đừng tin vì công thức, đừng tin vì có suy tư đầy đủ về dữ kiện, đừng tin vì có thẩm sátvà chấp nhận lý thuyết, đừng tin vì thấy thích hợp, đừng tin vì sa môn là thầy mình. Nhưng này các người Kâlâma, khi nào các người tự biết rõ: các pháp này là bất thiện, các pháp này đáng chê, các pháp này bị người trí chỉ trích, các pháp này nếu được thực hiện chấp nhận thì dẫn đến bất hạnh, khổ đau thời các người Kâlâma, các người hãy từ bỏ chúng đi. Điều đã được nói như thế là do nhân duyên như thế.

 

Điều nên chấp nhận

Này các người Kâlâma, đừng tin vì nghe nói lại, đừng tin vì theo phong tục, đừng tin vì theo tin đồn, đừng tin vì kinh điển truyền tụng, đừng tin vì lý luận, đừng tin vì công thức, đừng tin vì có suy tư đầy đủ về những dữ kiện, đừng tin vì có thẩm sát và chấp nhận lý thuyết, đừng tin vì thấy thích hợp, đừng tin vì Sa Môn là thầy mình.

Nhưng này các người Kâlâma, khi nào các người tự biết rõ: Các pháp này là thiện, các pháp này là không đáng chê, các pháp này được người trí khen ngợi, các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận thì dẫn đến hạnh phúc an vui. Thời này các người Kâlâma, các người hãy đạt đến an trú.

 

Không tham sân si

Này các người Kâlâma. Các người nghĩ thế nào: khi  không tham, không sân, không si (3) khởi lên trong lòng người nào thì hạnh phúc hay bất hạnh cho người ấy?

- Bạch Thế Tôn, hạnh phúc.

Này các người Kâlâma, người không tham, không sân, không si, tâm không bị tham sân si chinh phục, chiếm cứ, không giết sinh vật, không lấy của không cho, không đi lại với vợ người, không nói dối, không khuyên bảo người khác, cũng làm như vậy có được an vui lâu dài hay không?

          -Bạch Thế Tôn, có.

Này các người Kâlâma, các người nghĩ thế nào: các pháp này là thiện hay bất thiện? – Bạch Thế Tôn, thiện. – Đáng chê hay không đáng chê? – Bạch Thế Tôn, không đáng chê. – Bị người chỉ trích hay được người trí khen ngợi? – Bạch Thế Tôn, được người trí khen ngợi. – Nếu được thực hiện, chấp nhận thì có dẫn đến hạnh phúc an vui hay là như thế nào? – Bạch Thế Tôn, nếu được thực hiện, chấp nhận thì dẫn đến hạnh phúc và an vui. Sự thực là như vậy.

Như vậy, này các người Kâlâma, điều ta vừa nói với các người, các người Kâlâma, các người đừng tin vì theo nói lại, đừng tin vì theo phong tục, đừng tin vì nghe tin đồn, đừng tin vì kinh điển truyền tụng, đừng tin vì lý luận, đừng tin vì công thức, đừng tin vì có suy tư đầy đủ về dữ kiện, đừng tin vì có thẩm sát và chấp nhận lý thuyết, đừng tin vì thấy thích hợp, đừng tin vì Sa môn là thầy mình. Nhưng này các người Kâlâma, khi nào các người tự biết rõ: các  pháp này là thiện, các pháp này không đáng chê, các pháp này được người trí ca ngợi, các pháp này nếu được thực hiện, chấp nhận thì dẫn đến hạnh phúc an vui thời các người Kâlâma, các người hãy đạt đến và an trú. Điều đã được nói như thế là do nhân duyên như thế.

 

Từ Bi Hỉ Xả

Này các người Kâlâma, vị Thánh Thanh Văn nào ly tham sân si, giác tỉnh, chánh niệm, với tâm Từ Bi Hỉ Xả (3) tỏa khắp một phương và an trú. Cũng như vậy phương thứ hai, phương thứ ba và phương thứ tư. Cũng như vậy tỏa khắp vũ trụ bên trên, phía dưới, bề ngang, mọi hướng, mọi nơi; vị ấy an trú với tâm Từ Bi Hỉ Xả (4) rộng rãi, to lớn, không giới hạn, hết sạch giận dữ.

Các người Kâlâma, vị Thánh Thanh Văn với tâm không giận không hại không ô nhiễm, thanh tịnh như vậy thì ngay ở đây và bây giờ vị ấy đạt được bốn điều an ổn:

 

Bốn điều an ổn

 

1. "Nếu có đời sau, có quả báo của các nghiệp thiện ác thì sau thân hoại mạng chúng ta sẽ sanh vào thế giới an vui sung sướng."

Đây là điều vui thứ nhất có thể đạt được.

2. "Nếu không có đời sau, không có quả báo các nghiệp thiện ác thì ngay ở đây và bây giờ  ta sống tự tại, không giận, không hại, an tịnh, vui vẻ."

Đây là điều vui thứ hai có thể đạt được

3." Nếu lỡ làm điều ác nhưng ta không có ác tâm với một ai thì làm sao ta có thể chịu đau khổ vì nghiệp ác?"

Đây là điều vui thứ ba có thể đạt được.

4. "Nếu không làm điều ác thì như vậy ta tự thấy thanh tịnh cả hai phương diện –vô ý và cố ý."

Đây là điều vui thứ tư có thể đạt được.

Này các người Kâlâma, vị Thánh Thanh Văn, với tâm không giận, không hại, không ô nhiễm, thanh tịnh như vậy thì ngay ở đây và bây giờ vị ấy đạt được bốn điều an ổn như này.

- Đúng như thế Bạch Thế tôn. Đúng như thế Bạch Thiện Thệ. (*)

Bạch Thế Tôn, thật là vi diệu! Bạch Thế Tôn, chúng con xin quy y Thế Tôn. Quy y Pháp, quy y chúng Tỳ Kheo. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận chúng con làm đệ tử tại gia; từ nay cho đến khi chết, chúng con xin trọn đời quy y.

 

Chú thích sơ lược

(1)  – Mười hiệu này nói lên đức tính của Phật.

. A La Hán: bậc đáng kính

. Chánh biến tri, bậc hiểu biết đứng đắn và cùng khắp.

. Minh hạnh túc : bậc đầy đủ trí đức.

. Thiện thệ ; sống trong đời một cách khéo léo.

. Thế gian giải : bậc hiểu cuộc đời.

. Vô thượng sĩ : bậc cao cả không ai bằng.

. Điều ngự trượng phu : bậc dìu dắt người cao thượng.

. Thiên nhân sư : Thầy của người và trời

. Phật : bậc giác ngộ hoàn toàn.

. Thế Tôn : bậc mà người tôn kính.

(2)  – Sa môn là tên chung chỉ những người tu hành của các đạo giáo lúc bấy giờ  kể cả đạo Phật.

(*) – Những dấu này chỉ cho những đoạn ghép chung hay bỏ bớt để bản dịch không bị lặp đi lặp lại.

(3) – Từ : thương yêu, tình bạn ; Bi : giúp đỡ, làm cho người khác bớt khổ, hết khổ ; Hỉ : vui mừng đối với thành tựu của kẻ khác ; Xả : không cố chấp, tự tại.

(4) – Có lẽ trong bản Pâli của Pâli text Society in thiếu ba tâm : từ, bi và hỉ. Vì thế bản dịch này thêm vào.

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
05/12/2013(Xem: 16712)
Từ Tam Kỳ tôi về lại Đà Nẵng năm 1965 để hầu ôn Phổ Thiên và tiếp tục đi học tại trường trung học Phan Châu Trinh. Ôn cư ngụ tại Chùa Diệu Pháp, nhưng thường xuyên sinh hoạt tại Chùa Phổ Đà. Hai chùa cách nhau năm bảy căn nhà
01/12/2013(Xem: 9345)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh (1) đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật. Ngày xuất gia năm 12 tuổi ở chùa làng. Ðến năm 19 tuổi, được Hòa thượng Giải Tường chùa Phước Sơn thế độ làm đệ tử và học tại đây. Năm 22 tuổi Ngài thọ Cụ Túc giới và giữ chức thư ký trong chùa.
27/11/2013(Xem: 13615)
Hòa Thượng Thích Trí Nghiêm thế danh là Phan Diệp, sinh ngày 9 tháng Giêng năm Tân Hợi (1911) tại Thôn Chánh Lộc, Xã Xuân Lộc, Huyện Đồng Xuân, (thuộc Huyện Sông Cầu ngày nay), Tỉnh Phú Yên. Thân phụ là Cụ Ông Phan Châm. Thân mẫu là Cụ Bà Nguyễn thị Tham. Ngài là người con thứ hai trong gia đình có năm anh chị em. Gia đình Ngài là một gia đình có truyền thống nhiều đời uy tín Tam Bảo.
10/11/2013(Xem: 63077)
9780975783085, Cách phi trường quốc tế Melbourne 15 phút lái xe, theo Western Ring Road và exit vào Hume High Way, sau đó quẹo trái từ đường Sydney road, đi vào con đường Lynch thân thương, khách hành hương sẽ nhìn thấy một quần thể kiến trúc nổi bật trong vùng cư dân này, đó là Bảo Tháp Tứ Ân và cổ lầu của chánh điện Tu Viện Quảng Đức, tọa lạc tại số 105 Lynch Road, vùng Fawkner
21/10/2013(Xem: 13465)
Suốt thời gian nhập thất là 3 năm, tuy ăn uống đạm bạc nhưng nhờ sức chuyên tu bệnh tật của thầy cũng được tiêu trừ và trí tuệ khai minh, nguồn tâm sáng tỏ. Khoảng thời gian này, nhiều tác phẩm KINH – LUẬT – LUẬN được thầy dịch thuật và chú giải từ bản Hán văn sang Việt văn như: kinh Phổ Môn, kinh Di Đà, kinh Địa Tạng, kinh Pháp Hoa, kinh Hồng Danh, kinh Thập Ác Báo - Thập Thiện Nghiệp, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ, kinh Địa Tạng Chiêm Sát, kinh Trường Thọ Diệt Tội, kinh Đại Thừa Công Đức Tạo Tượng Phật, kinh Khiệp Bảo Ấn Đà La Ni, kinh Bồ Tát Thiện Giới, kinh Văn Thù Vấn Phật, Phật Học Giáo Khoa Thư, Đại Thừa Khởi Tín Luận, Hạnh Nghi Người Tu Học Phật …
19/10/2013(Xem: 9783)
Trưởng Lão Hòa Thượng thế danh Tôn Thất Thuế, sinh năm 1924 tại thôn Thanh Lương, xã Hương Xuân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ngài thuộc dòng dõi hoàng gia Đệ cửu hệ, Tứ phòng. Phụ thân là Cụ ông Tôn Thất Tích, pháp danh Nguyên Phước, mẫu thân là Cụ bà Phan Thị Cưỡng, pháp danh Nguyên Thâm, đều là những nông dân hiền lương, chất phác. Ngài có tất cả năm anh chị em, hai trai, ba gái. Hiện tại, một gái đã mất, còn Ngài và hai em gái đều theo Phật xuất gia. Hai thân Ngài đều đã khuất núi.
15/10/2013(Xem: 31439)
(Báo Viên Giác, Số 197, tháng 10-2013, Số Đặc Biệt tưởng niệm Cố Hòa Thượng Thích Minh Tâm (1940-2013)
10/10/2013(Xem: 21962)
Phạm Thiên Thư, Phạm Công Thiện, Lê Mạnh Thát, Tuệ Sỹ, Phạm thế Mỹ, Trịnh Công Sơn, Nguyễn Đức Sơn, Bùi Giáng, Trí Hải...
06/10/2013(Xem: 86485)
Trước khi Sài Gòn sụp đổ, tôi đã có một thời gian dài sống tại Lăng Cha Cả, gần nhà thờ Tân Sa Châu. Để đến được trung tâm Sài Gòn, từ Lăng Cha Cả phải đi qua những con đường Trương Minh Ký – Trương Minh Giảng (nay là đường Lê Văn Sĩ). Ở đoạn chân cầu Trương Minh Giảng có một cái chợ mang cùng tên và sau này