Kinh Gần Phật Xa Phật ( do HT. Thích Thiện Châu giảng giải, Phật tử Diệu Danh diễn đọc)

16/02/202307:41(Xem: 4117)
Kinh Gần Phật Xa Phật ( do HT. Thích Thiện Châu giảng giải, Phật tử Diệu Danh diễn đọc)

duc phat thuyet phapHT-Thich-Thien-Chau-03
KINH GẦN PHẬT XA PHẬT

HT. Thích Thiện Châu giảng giải

Phật tử Diệu Danh diễn đọc

 

I.GIỚI THIỆU.

">Bài kinh này rút từ Itivuttaka số 92 (Tik.V.3) trang 90-92 (Pâli Text Society). Hòa Thượng Thích Minh Châu đã dịch trong tập kinh "Phật thuyết như vậy". Tủ thư Phật học Vạn Hạnh, ấn hành 1982.

Nội dung thật là rõ ràng: Sống bên cạnh Phật mà không thấy pháp, nghĩa là không thấy đạo lý, không tu dưỡng, không tiến bộ trên đường đạo thì vẫn xa Phật. Trái lại, dù ở xa Phật ngàn dặm mà vẫn thấy pháp, đạt đạo thì cũng rất gần Phật.

Lời dạy nổi bật của kinh là: "thấy pháp tức là thấy Phật"nghĩa là ngộ đạo, tu đạo và chứng đạo. Đạo là chánh pháp, giáo lý chứng được các nguyên lý khổ, vô thường, vô ngã và Nirvâna. Qua lời dạy này chúng ta thấy Phật quả là vị Đạo Sư sáng suốt, giải thoát mọi tham muốn uy quyền dù là uy quyền của ông thầy đối với học trò. Và gần Phật nghĩa là hòa hợp giữa hai hay nhiều người cùng có trình độ giác ngộ, giải thoát giống nhau. Điều này làm sáng rõ nguyên lý bình đẳng trong đạo Phật: tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật, và khi đã giác ngộ giải thoát hoàn toàn thì tất cả hòa hợp với nhau trong chơn lý: "Phật Phật đạo đồng"

Như thế, vấn đề quan trọng không phải là lễ bái, cúng dường, phụng sự Phật (những điều này là cần và tốt song chưa đủ để gần Phật, thấy Phật) mà chính là sự ngộ tu chứng đạo vì có ngộ-tu-chứng đạo thì mới thấy pháp và Phật thật sự.

 

II.CHÁNH KINH

 

Nầy các Tỳ Kheo, nếu có Tỳ Kheo cầm viên đại-y (Sanghâtikanne) của Ta đi sau lưng Ta, bước theo chân Ta, song vị ấy tham cầu dục lạc, với tham dục nặng nề (tibbasârâga), tâm giận dữ, tư duy tà ác, thất niệm (3), không chánh giác, không định tĩnh, tâm mê loạn, căn tánh hoang dại (4), thì vị ấy xa hẳn Ta và Ta cũng xa vị ấy. Tại sao? Nầy các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo ấy không thấy pháp (5); do không thấy pháp nên không thấy Ta. Nầy các Tỳ Kheo, dù có Tỳ Kheo ở xa Ta đấn 100Yoja (6) mà vị ấy không tham cầu dục lạc, không tham dục nặng nề, tâm không giận dữ, tư duy không tà ác, chánh niệm, chánh giác, định tĩnh, nhất tâm, căn tánh được chế ngự, thì vị ấy rất gần Ta và Ta cũng rất gần vị ấy. Tại sao? Nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ấy thấy pháp, do thấy pháp nên thấy Ta.

"Dù cho có theo chân

Song đa dục não hại

Thì người tham, người không

Người mát dịu, người không

Vẫn xa cách hẳn nhau

Bậc hiền triết biết rõ,

Và hoàn toàn hiểu pháp

Như hồ không gió thổi

Không giao động yên lặng

Những người không tham dục

Những người đã mát dịu

Những người hết tham dục

Quả thật rất gần nhau"

 

III.CHÚ THÍCH SƠ LƯỢC

 

(1)  : Tựa kinh do dịch giả đặt ra

(2)  : Đại y (sanghâti): mỗi Tỳ Kheo có 3 y. Đại y thường được mặc trong khi đi khất thực hay đi ra ngoài.

(3)   : Thất niệm: không tỉnh táo, không chú ý, tán loạn

(4)  : Căn tánh hoang dại : tâm tư chưa được chế ngự và chưa hướng về đạo lý.

(5)  : Pháp : chánh pháp – thật tế cuộc đời và lý tưởng giác ngộ, giải thoát; pháp cũng chỉ có 4 chơn lý cao cả, hoặc 3 hay 4 dấu ấn: khổ, vô thường, vô ngã và Nirvâna.

(6)  : Yoja: (Do tuần) – 1 Yoja dài độ 7 dặm Anh.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/11/2010(Xem: 14582)
Tiểu sử nhà văn Quách Tấn
15/11/2010(Xem: 10636)
Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm - mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại Tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa.
10/11/2010(Xem: 11359)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
02/11/2010(Xem: 10740)
Thành kính khẩn bạch đến chư Tôn Đức Tăng Già của quý Giáo Hội, quý Tự Viện, quý tổ chức Phật Giáo cùng toàn thể chư vị thiện nam tín nữ Phật tử: Đại Lão Hòa Thượng thượng Huyền, hạ Ấn, thế danh Hoàng Không Uẩn, sinh năm 1928 tại Quảng Bình, Việt Nam
01/11/2010(Xem: 16785)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
01/11/2010(Xem: 48539)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
29/10/2010(Xem: 10106)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).
23/10/2010(Xem: 8697)
Trong Cây Có Hoa Trong Đá Có Lửa Kính Dâng Hòa Thượng Thích Như Điển nhân dịp mừng thọ 70 tuổi của Ngài và kỷ niệm 40 năm khai sơn Chùa Viên Giác tại Đức Quốc Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng “Trong Cây Có Hoa, Trong Đá Có Lửa” là lời pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên do Hòa Thượng Thích Như Điển nhắc lại trong thời giảng Pháp của Ngài mà tôi đã nghe được khi theo hầu Ngài trong chuyến đi Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ năm 2006. Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen) là người Nhật, Ngài sinh năm 1200 và tịch năm 1253, thọ 53 tuổi. Ngài là Sáng Tổ của của Soto-Zen (Thiền Tào Động) của Nhật Bản, và là tác giả bộ sách nổi tiếng “Chánh Pháp Nhãn Tạng” “Ki no naka ni, hana ga aru (Trong cây có hoa), Ishi no naka ni, hi ga aru (Trong đá có lửa)” Đó là pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen), được Hòa Thượng Như Điển dịch sang lời Việt. Lời thơ quá tuyệt vời, tuy ngắn gọn nhưng dung chứa cả một kho tàng giáo lý về Nhân Duyên Quả của Đạo Phật.
23/10/2010(Xem: 8745)
Trong mười thế kỷ phong kiến Việt Nam, Trần Nhân Tông là một trong những ông vua giỏi và tài hoa bậc nhất. Lịch sử đã xem ông là “vị vua hiền” đời Trần, có công lớn trong sự nghiệp trùng hưng đất nước. Văn học sẽ nhớ mãi ông bởi những vần thơ thanh nhã, sâu sắc và không kém hào hùng.