Kinh Ba Tĩnh Lặng (Do HT. Thích Thiện Châu giảng giải và Phật tử Diệu Danh diễn đọc)

16/02/202307:25(Xem: 3923)
Kinh Ba Tĩnh Lặng (Do HT. Thích Thiện Châu giảng giải và Phật tử Diệu Danh diễn đọc)

HT-Thich-Thien-Chau-02

 KINH BA TĨNH LẶNG

HT Thích Thiện Châu giảng giải

Phật tử Diệu Danh diễn đọc

I- GIỚI THIỆU

 

Kinh này rút từ  "Phật thuyết như vậy" (Itivuttaka) trong 15 quyển thuộc Tiểu Bộ (Khuddakanikâya, Pâli Text Society, trang 56; HT Thích Minh Châu đã dịch, tủ thư Phật Học Vạn Hạnh xuất bản 1982). Nội dung nói về ba sự tĩnh lặng: Thân tĩnh lặng, Lời tĩnh lặng và Ý tĩnh lặng.

Tất cả hoạt động của con người tuy nhiều song có thể gồm thâu vào 3 loại: thân, lời và ý.

Hoạt động của thân, lời, và ý nơi người thường thì ồn ào và đưa đến đau khổ, bởi vì một người không tu dưỡng có những hoạt động giết hại, trộm cướp, tà hạnh (thân), nói dối, nói lời thêu dệt, nói thô ác (lời) tham lam, tàn bạo, hiểu sai (ý).

 Trái lại, hoạt động của thân, lời và ý nơi người tu hành, đạo sĩ thì tĩnh lặng và đưa đến an vui bởi vì một người hướng về giác ngộ giải thoát  luôn luôn tôn trọng sự sống, tài sản và hạnh phúc gia đình của người khác, Người xuất gia thì phạm hạnh (thân), nói thật, nói hòa giải, nói đúng, nói hiền diệu (lời), giúp đỡ, cho vui, hiểu đúng.

Nói rộng ra, sở dĩ cuộc đời trở nên ồn ào, đau khổ là vì con người và xã hội sinh hoạt theo chiều hướng không lành mạnh. Nếu con người và xã hội chịu đổi lại cách sống và sống theo chiều hướng lành mạnh thì cuộc sống sẽ tĩnh lặng, an vui. Muốn được tĩnh lặng, an vui, con người cần phải tu dưỡng hay được giáo dục để những lậu hoặc (âsava) sau đây không còn là sức mạnh thúc đẩy hoạt động của con người:

1-    Lậu hoặc về dục lạc (kâmâsava)

2-    Lậu hoặc về hiện hữu hay bản ngã (bhavâsava)

3-    Lậu hoặc về tà kiến (ditthâsava)

4-    Lậu hoặc về vô minh (avijjâsava).

"Có bên trong thì hiện ra ngoài" (hữu ư nội tất hình ư ngoại). Một khi các lậu hoặc không còn thì giác ngộ, giải thoát, nghĩa là con người vẫn hành động, nói năng và suy nghĩ song luôn luôn tĩnh lặng như mặt nước hồ thu đêm rằm.

Thiền quán có khả năng ngăn đổi con người ồn ào trở thành con người tĩnh lặng. Các thần giáo thường an ủi con người với phương pháp cầu nguyện. Phật giáo, với phương pháp thiền quán, giúp con người diệt trừ các lậu hoặc để được tĩnh lặng hoàn toàn.

Thích Ca Mâu Ni là Đức Phật tĩnh lặng (Muni) thuộc giòng Thích Ca (Sâkya). Phật tử là người tu học để được tĩnh lặng như Phật Tổ.

Cuộc sống hôm nay, nhứt là ở các thành phố phương tây quả thật là ồn ào và đau khổ, vì thế đạo lý của Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni rất cần thiết cho chúng ta.

 

II- CHÁNH KINH

 

Điều này do Thế Tôn và A La Hán nói và tôi được nghe:

"Này các Tỳ Kheo, có ba sự tĩnh lặng. Những gì là ba? Thân tĩnh lặng, lời tĩnh lặng và ý tĩnh lặng, Này các Tỳ Kheo, ấy là ba sự tĩnh lặng".

Thế Tôn nói ý nghĩa này; điều này lại được nói:

 "Thân tĩnh lặng, lời tĩnh lặng, ý tĩnh lặng không lậu hoặc". Đủ tĩnh lặng của đạo sĩ, gọi là "tâm sạch điều ác"

Ý nghĩa này do Thế Tôn nói và tôi được nghe.

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/12/2010(Xem: 10901)
Hòa thượng Thích Quảng Thiệp (1928-1998)
25/11/2010(Xem: 37933)
Trần Thái Tông là vị vua đầu của triều Trần. Ngài là đệ tử của thiền sư Viên Chứng trên núi Yên Tử. Ngài vừa làm vua vừa thực tập thiền. Ngài cũng từng thực tập thiền công án. Đây là 43 công án Vua đưa ra để cùng thực tập với tăng thân của Vua, gồm có giới xuất gia và tại gia. Thầy Làng Mai đã dịch những công án này ra tiếng Việt và tiếng Pháp năm 1968. Bản dịch tiếng Pháp xin xem ở phần phụ lục cuốn Clé Pour Le Zen, tác giả Nhất Hạnh, do nhà xuất bản JC Lattes ấn hành. Bản Hán Việt có trong Thơ Văn Lý Trần quyển II (Quyển thượng, trang 108-121), NXB Khoa Học Xã Hội.
24/11/2010(Xem: 15595)
Tiểu sử nhà văn Quách Tấn
15/11/2010(Xem: 10718)
Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm - mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại Tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa.
10/11/2010(Xem: 11416)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
02/11/2010(Xem: 10845)
Thành kính khẩn bạch đến chư Tôn Đức Tăng Già của quý Giáo Hội, quý Tự Viện, quý tổ chức Phật Giáo cùng toàn thể chư vị thiện nam tín nữ Phật tử: Đại Lão Hòa Thượng thượng Huyền, hạ Ấn, thế danh Hoàng Không Uẩn, sinh năm 1928 tại Quảng Bình, Việt Nam
01/11/2010(Xem: 17413)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
01/11/2010(Xem: 49219)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
29/10/2010(Xem: 10160)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).