Đến Đi Thong Dong (Thơ)

29/01/202220:44(Xem: 6397)
Đến Đi Thong Dong (Thơ)


Đến Đi Thong Dong.

Tiễn Ôn Đến Đi Thong Dong 

Ngày Mây Sen Trắng, Giữa Tầng Không Xanh.

Rừng Thông Gió Trúc Đầy Cành, 

Ngàn Mai Nở Rộ, Tinh Anh Địa Cầu.

Ôn Đến Thế Giới Nhiệm Mầu,

Trao Tay Chánh Niệm , Quay Đầu Bến Mê,

Thong Dong Thầy Bước Trở Về, 

Ngôi Chùa Từ Hiếu, Nằm Nghe Thông Già.

Ôn Đi Giữ Chốn Quê Nhà,

Từ Âu Á Mỹ, Chính Là Tâm Tang.

Thong Dong Đến Chốn Địa Đàng,

Leo Đồi Thế Kỷ, Giữ Ngàn Đất Sâu.

Pháp Thân Lồng Lộng Từ Lâu, 

Ôn Là Mây Trắng, Nghĩa Mầu Tinh Không.

Pháp Thân Trả Mộng Bụi Hồng,

Ôn Là Tịnh Độ, Niệm Lòng Đại Bi.

Đừng Xây Bảo Tháp Khắc Gì..? 

Đừng Nằm Một Chỗ, Đến Đi Bận Lòng.

Hoá Thân Um Nắm Tro Không,

Chia Thành Các Chốn, Làng Hồng, Làng Mai.

Các Con Lưu Ảnh Chớ Phai, 

Phải Chuyên Chánh Niệm, Ngày Dài Đến Đi.

Các Con Học Nguyện Từ Bi, 

Lắng Nghe Hiểu Biết, Những Gì Ôn Trao.

Các Con Nhớ Tập Sáng Soi, 

Phải Trong Im Lặng, Bước Vào Nhà Tâm.

Các Con Giữ Giới Giữ Thân,

Phải Luôn Đi Một, Thâm Ân Lời Thầy.

Đừng Nghĩ Ôn Mất Từ Đây, 

Trong Con Là Pháp, Trong Thầy Có Con.

Đừng Nghĩ Ôn Mất Chẳng Còn,

Trong Lời Thầy Dạy, Vẫn Tròn Uy Nguyên.

Quay Về Nương Bụt Cõi Huyền, 

Trong Ôn Chánh Niệm, An Nhiên Trở Về.

Quay Về Nương Pháp Thoát Mê, 

Trong Ôn An Trú, Đường Quê Hương Mình.

Quay Tăng Học Pháp Lời Kinh, 

Trong Ôn Chuyển Hoá, Tâm Linh Tháng Ngày.

Tâm Tang Tu Học Pháp Này, 

Mãi Ghi Sử Sách, Chân Thầy Tròn Trăng.

Tiễn Ôn Xứ Huế Nắng Hồng, 

Tiễn Ôn Xứ Huế, Lặng Trong Cõi Đời.

Dâng Tràng Hoa Pháo Thảnh Thơi,

Tiễn Ôn Lặng Lẻ, Bậc Thầy Lừng Danh.

Hậu Học chúng con, nhân duyên trở về chốn Tổ Đình Từ Hiếu đảnh lễ Pháp thân Đức tướng của Bậc Niên Trưởng Tông phong, chúng con biết sự hiện diện lặng thinh như mây trắng đến lạ thường, ai ai về chiêm ngưỡng, người người đứng Chánh Niệm nghe hơi thở tự do, như chính pháp hành mà Sư Ôn đã chỉ dạy hơn 70 năm du phương tìm hiểu theo công ánh của Bụt, “Vị” tình yêu đầu đời trong con.

       Giờ này chúng con thực hành pháp yên lặng như hơi thở Chánh Niệm pháp từ dung.

      Hậu học Kẻ Sĩ Không Thành  chúng con, cùng các học trò Liên Tịnh Nguyện, gia trì niệm Quán âm, vọng bái tâm tang.

Cúi xin Tôn sư nhã giám trong pháp hành Chánh Niệm tự thân. Nhân ngày tâm tang thứ 7 -tại chốn Tổ Đình Từ Hiếu- Huế. Cung tiễn Ôn Lên Đài Hoá Thân Vĩnh Hằng- Vườn Địa Đàng.

Cung kính Vọng Bái Giác Linh Sư Ôn..! 

 一心頂禮嗣臨濟正宗第四十二代,了觀法脈第八世,慈孝寺住持,芳雲庵,法雲寺開山,國際梅村道場,清山道場,鹿菀道場禪主,避釋上澄下光字逢春號一行禪師阮公大和尚覺靈.

Nhất tâm đảnh lễ Tân Viên Tịch, Tự Lâm Tế Tông Tứ Thập Nhị Thế, Liễu Quán Pháp Phái Đệ Bát Thế, Từ Hiếu Tổ Đình Niên Trưởng Trú Trì, Mai Thôn Đạo Tràng Quốc Tế Khai Sơn, Huý Thượng Trừng Hạ Quang, Tự Phùng Xuân, Hiệu Nhất Hạnh Thiền Sư, Nguyễn Công Hoà Thượng Giác Linh.

                 Tk: Thích Minh Thế

                 Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.

                 Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang 

                 Ngày 29-01-2022

                 Ngày Âm Lịch: 27-12-Tân Sửu.
Di-Den-Thong-Dong-1Di-Den-Thong-Dong-2Di-Den-Thong-Dong-3Di-Den-Thong-Dong-4Di-Den-Thong-Dong-5Di-Den-Thong-Dong-6Di-Den-Thong-Dong-7Di-Den-Thong-Dong-8Di-Den-Thong-Dong-9Di-Den-Thong-Dong-10

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/07/2011(Xem: 9197)
Thiền sư húy thượng NGUYÊN hạ BÀNG - ĐẠI NGUYỆN tự CHÍ NĂNG hiệu GIÁC HOÀNG , thế danh LÊ BẢN, sinh năm Canh Dần 1950, tại thôn An Ngãi, xã Nhơn An huyện An Nhơn tỉnh Bình Định. Ngài sinh trong một gia đình nhiều đời sùng kính Tam Bảo. Thân phụ: Cụ ông LÊ TRÀ, thân mẫu: Cụ Bà TRẦN THỊ TÁM. Ngài là anh cả trong gia đình gồm có năm người con.
24/06/2011(Xem: 9400)
Vua Lê Đại Hành mất vào năm 1005, các hoàng tử tranh giành ngôi vua tạo nên cảnh khổ đau tràn ngập cho Dân Tộc, bên trong bị nội loạn, bên ngoài bị ngoại xâm đe dọa. Trước những thảm trạng đen tối u ám và đầy dẫy những thống hận đó, Vạn Hạnh thiền sư xuất hiện như một thứ ánh sáng phi thường quét sạch vùng trời giông tố để đưa vận nước bước vào thời đại huy hoàng thịnh trị.
24/06/2011(Xem: 8904)
Trận chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Vương Quyền năm 939 là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử dựng nước của Việt Nam. Ngọn sóng Bạch Đằng Giang đã cuốn trôi đi nỗi đau nhục của người dân nô lệ, nhận chìm tham vọng của nòi Hán áp đặt lên đất nước ta trong suốt một ngàn năm. Từ đây Việt Nam không còn là một huyện lỵ của người Hán, từ đây một quốc gia đúng nghĩa đã xuất hiện dưới vòm trời Đông Á.
24/06/2011(Xem: 11182)
Ngài họ Nguyễn húy là Hữu Kê, dòng họ của Đại thần Nguyễn Trãi. Nguyên quán thuộc Tông sơn Gia miêu Ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa. Ngài thọ sanh năm Nhâm Tý (1912), tại làng Nguyệt Biều, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Vốn thọ sanh trong gia đình vọng tộc, quý phái, thích lý luận Nguyễn Hữu Độ.
24/06/2011(Xem: 7941)
Ngài Mật Thể, pháp danh Tâm Nhất, pháp tự Mật Thể, tên thật là Nguyễn Hữu Kê, sinh năm 1912 ở làng Nguyệt Biều, quận Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Chánh quán huyện Tống Sơn, Gia Miêu ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa, thuộc dòng Thích Lý của Cụ Nguyễn Hữu Độ. Gia đình Ngài qui hướng đạo Phật, cụ thân sinh và người anh ruột đều xuất gia.
23/06/2011(Xem: 8654)
Đọc Thánh Đăng Ngữ Lục, do Sa môn Tánh Quảng, Thích Điều Điều đề tựa trùng khắc, tái bản năm 1750, ta thấy đời Trần có năm nhà vua ngoài việc chăn dân, họ còn học Phật, tu tập và đạt được yếu chỉ của thiền, như vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông và Trần Minh Tông. Và sự chứng ngộ của các Thiền sư đời Trần thì không thấy đề cập ở sách ấy, hoặc có đề cập ở những tư liệu khác mà hiện nay ta chưa phát hiện được, hoặc phát hiện thì cũng phải tra cứu và luận chứng dài dòng rồi mới kết đoán ra được.
23/06/2011(Xem: 9321)
Đọc sử Phật giáo Việt Nam, hẳn chúng ta đều biết nước mình có một ông vua đi tu ngộ đạo, đó là vua Trần Nhân Tông. Ngài làm vua trong thời gian nước nhà đang bị quân Mông Cổ đem đại quân sang xâm lấn nước ta lần thứ ba.
22/06/2011(Xem: 12409)
Trong sáu thập niên qua, TIME đã không ngừng ghi chép lại những vinh quang cùng khổ nhọc của Á châu. Trong số đặc biệt kỷ niệm thường niên hôm nay, chúng tôi muốn bày tỏ lòng kính trọng của mình đến những nhân vật nổi bật đã góp phần vào việc hình thành nên thời đại chúng ta. Những thập niên xáo động nhất của một lục địa đông dân nhất trên trái đất này đã sản sinh ra hàng loạt những nhân vật kiệt xuất. Trong sáu mươi năm qua, kể từ khi TIME bắt đầu cho xuất bản ấn bản Á Châu, chúng tôi đã có cái đặc ân là được gặp gỡ đa số những nhân vật ngoại hạng này –theo dấu cuộc vận động hay trên chiến trường, trong phòng hội hay trong phòng thí nghiệm, tại cơ sở sản xuất hay tại phim trường.
16/06/2011(Xem: 7778)
Tôi có duyên lành gặp được ngài một lần khi ngài đến thăm Hòa thượng chùa Đông Hưng, bổn sư của tôi, cũng là y chỉ sư của Hòa thượng Quảng Thạc, một để tử xuất gia của ngài khi còn ở đất Bắc. Cung cách khiêm cung, ngài cùng Hòa thượng tôi đàm đạo về quá trình tu tập cũng như Phật học, hai ngài đã rất tâm đắc về chí nguyện giải thoát và cùng nhau kết luận một câu nói để đời : “Mục đích tu hành không phải để làm chính trị”. Cũng câu nói này, khi chia tay chư tăng miền Nam, ngài đã phát biểu với hàng pháp lữ Tăng ni đưa tiễn. Khi sưu tập tư liệu về cuộc đời của ngài, tôi may mắn gặp được các bậc tri thức cao đồ của ngài kể lại. Nay, nhân có cuộc hội thảo về phong trào chấn hưng Phật giáo miền Bắc và công hạnh của ngài, tôi xin được góp thêm đôi điều.
14/06/2011(Xem: 9076)
Thiền sư PHÁP THUẬN (Bính Tý 918): Thiền sư đời Tiền Lê, thuộc dòng thiền Tỳ-Ni-Đa-Lưu Chi, không rõ gốc gác quê quán và tên thật, chỉ biết rằng Sư họ Đỗ, xuất gia từ thuở nhỏ ở chùa Cổ Sơn (Thanh Hóa), sau theo học đạo Thiền sư Phù Trì ở chùa Long Thọ, nổi tiếng là uyên thâm đức độ. Tương truyền rằng chính Sư đã dùng nghệ thuật phù sấm, làm cố vấn giúp vua Lê Đại Hành nắm quyền bính, dẹp yên được hỗn loạn trong triều cuối đời nhà Đinh, được vua Lê vô cùng trọng vọng. Năm 990 niên hiệu Hưng Thống thứ 2, Sư không bệnh mà viên tịch, thọ 76 tuổi, để lại cho đời các tác phẩm: “Bồ Tát sám hối văn”, “Thơ tiếp Lý Giác”, và một bài kệ.