Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Ni Trưởng Diệu Tâm Trở Về (Bài viết của HT Thích Bảo Lạc)

21/10/202107:58(Xem: 501)
Ni Trưởng Diệu Tâm Trở Về (Bài viết của HT Thích Bảo Lạc)
Ni Trưởng Diệu Tâm Trở Về
Bài viết của HT Thích Bảo Lạc
được đăng tải trên trang nhà Quảng Đức
Do Phật tử Diệu Danh diễn đọc


 

 

     Đọc qua tựa đề, quý vị chắc nghĩ sư Diệu Tâm từ Đức trở về lại Việt Nam sau nhiều thập niên xa quê hương xứ sở để thăm thú những ngôi Tổ đình, trong số có Ni viện Bảo Thắng (Hội An) nơi mà Sư đã một thời tập sự tôi luyện tâm. Và rồi nêu hỏi về đâu khi Người không còn tồn tại nơi trần thế? Hỏi đáp xưa nay đã trở thành vấn đề thiết cốt trong đời sống nhân loại. Một đứa bé lên 3 tuổi hỏi Cha Mẹ nhiều câu, nhiều vật, những việc trước  mắt, có cái trả lời được, cái trả lời chẳng được thông suốt. Trong trường hợp trả lời không được, người lớn thường lấy quyền áp đảo trẻ nhỏ bằng luận điệu: mày im đi, biết gì mà hỏi. Hẳn quý độc giả còn nhớ câu chuyện xưa Hạng Thác hỏi nhà hiền triết Khổng Tử đủ mọi vấn đề về nhân sinh, thiên văn, địa lý, triết học, khoa học, không gian, vũ trụ, địa cầu, hành tinh, thế giới v.v… làm cho Khổng Tử chưa nghĩ kịp nên trả lời không hợp lý, chú bé không chịu, ông bực mình hỏi thêm: sao không nhắm gần lại hỏi xa, những việc ở đâu trên trời dưới đất? Nó nói nếu vậy, con xin hỏi việc trước mắt vậy, xin hỏi lông mày mấy sợi. Không trả lời được, Khổng Tử quay sang nói với môn đệ “hậu sanh khả úy” (kẻ sanh sau đáng nể), như lời khuyên bảo khéo để sách tấn lớp người sau.

     Sư Diệu Tâm sanh bất phùng thời, vào đầu cuộc thế chiến thứ hai (1939) do phe trục gồm: Đức – Ý – Nhật với phe đồng minh: Mỹ - Anh – Pháp đọ sức phe Cộng sản Nga – Tàu, khiến cho thế giới thêm một lần nữa lâm cảnh điêu linh thống khổ, cửa nát nhà tan, người chết nhan nhãn, vô số người bị thương tật, con mất cha, vợ mất chồng, bà con ly tán. Hồi đó cô bé mới lên 6 tuổi thì cuộc chiến chấm dứt (1945). Tuổi trẻ Cô ít nhiều bị nhiễm độc chiến tranh, cướp đi một phần hồn nhiên thuần khiết, nhưng nhờ ảnh hưởng gia đình, hai cụ thân sinh đều là những Phật tử tín thành, trưởng dưỡng con những việc thiện như tích phước, bố thí, ăn chay, đi chùa lễ bái, quy y, học đạo. Đó là nhân lành giúp cô tiến xa trên đường thoát ly gia đình vào Chùa học đạo năm lên 15, độ tuổi vừa mới lớn trong trắng hồn nhiên, được thế phát xuất gia thọ giáo với vị chân Ni đức hạnh, sư Thầy Đàm Minh ở Chùa Bảo Thắng – Hội An; là đệ tử đầu Cô được Sư Phụ trông cậy nhất và cũng thương yêu nhất mực.

     Ngoài tu học Phật Pháp, Sư Diệu Tâm còn được Thầy khuyến khích đôn đốc Cô học chuyên ngành xã hội theo chương trình An sinh Xã hội của Viện Đại Học Vạn Hạnh, an ủi những nạn nhân chiến tranh trong thập niên 60, nhất là sau đợt tổng công kích của CS miền Bắc vào dịp Tết Mậu Thân (1968). Sư Diệu Tâm ra làm việc đảm nhận các chức vụ hợp khả năng và sở nguyện như: Giám đốc Cô nhi viện Diệu Định Đà Nẵng; điều hành các Ký nhi viện Bảo Quang, Thanh Khê tại Đà Nẵng. Do sở học cộng thêm tinh thần tháo vác, một mặt Sư dốc lòng phụng sự xã hội để đền ơn giáo dưỡng của Thầy Tổ, mặt khác cùng phụ lực với Bổn Sư kiến tạo các ngôi già lam Bảo Thắng (Hội An), Bảo Quang (Đà Nẵng).

     Khi ra nước ngoài định cư Sư một mặt kiến tạo Chùa Ni Việt Nam đầu tiên tại Hamburg, Đức Quốc, lúc đầu gặp rất nhiều khó khăn, nhưng Sư vẫn nhẫn nại kiên trì, đồng thời đảm nhận Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Xã Hội Giáo Hội PGVN Thống Nhất Âu Châu qua vài nhiệm kỳ, sáng lập điều hành Quỹ Học Bổng Tăng Ni du học tại Ấn Độ, Đài Loan, Hoa Kỳ. Sự quan tâm đặc biệt của Sư qua việc tài trợ “nồi cháo tình thương” đến những người bịnh hoạn, neo đơn; cũng như hỗ trợ các chương trình từ thiện: xây nhà tình thương, xây cầu, cứu trợ thiên tai Việt Nam và nhiều nơi khác.

     Như ta thường nghe câu: “mang chuông đi đánh xứ người” cổ đức dạy, Sư Diệu Tâm khi vừa định cư tại Đức năm 1984 liền nghĩ tới việc lập chùa Bảo Quang tại Hamburg làm nơi tu học và hoằng pháp lợi sanh theo công hạnh Thầy Tổ. Chùa Bảo Quang ban đầu thuộc khu dân cư không thích hợp với sinh hoạt Phật sự, sau nhiều lần trăn trở Sư tìm phương cách thích ứng đổi địa điểm, nhưng nhìn lại khả năng tài chánh hãy còn rất eo hẹp, không đủ sức với tới một nơi tiện nghi và đủ điều kiện hơn. Trong hoàn cảnh khó khăn ấy, hẳn Sư suy tư nhiều tới tương lai của Bảo Quang nói riêng và Phật Giáo Việt Nam tại Đức nói chung. Sau cùng Sư hạ quyết tâm tìm kế hoạch tài chánh bằng cách mượn Hội Thiện (không lãi suất) và kêu gọi Phật tử phát tâm cúng dường. Do Viện Chủ cảm nên sự đáp ứng dự án dời chùa của Phật tử lên rất cao, mạnh mẽ nên được thuận duyên và chùa Bảo Quang đã được dời về vùng Billbrookdeich, Hamburg, sát cạnh dòng sông nước trong xanh biếc rất nên thơ, hữu tình. Đây cũng là nơi di dưỡng cuối cùng của Ni Trưởng sau bao năm làm việc vất vả, mệt mỏi; bên cạnh Sư còn có các đệ tử hiếu thảo chăm sóc Sư Phụ tận tình như các sư Tuệ Đàm Nghiêm, Tuệ Đàm Châu, Tuệ Đàm Hương v.v...

     Ni Trưởng rất quan tâm đàn hậu học và tận tình giúp đỡ đào tạo Ni chúng tại Bảo Quang (Đức) hoặc hướng dẫn tinh thần các cơ sở Ni như chùa Bảo Vân, Hoa Đàm (Việt Nam), Linh Thứu, Bảo Thành, Bảo Đức (Đức), Bảo Liên (Đan Mạch), Thảo Đường (Nga). Ngoài ra Ni trưởng còn quan tâm giúp đỡ trùng tu các Tổ đình, cúng dường các học viện đào tạo Tăng Ni sinh không chỉ riêng Việt Nam mà còn giúp đào tạo nhân tài Phật giáo nói chung không phân biệt giáo phái, truyền thống.

     Tựa đề trên biết chắc khó được mọi người đồng thuận, dù vậy tác giả vẫn viết tự nhiên như là một chút kỷ niệm sau cùng với người đồng xã (cách một bờ mương), đồng quê, đồng thời, đồng đạo, đồng tông, đồng Phật, đồng lý tưởng giải thoát, xem Qui Sơn Cảnh Sách như Kinh Nhật tụng mà tăng ni theo truyền thống Đại thừa phải học thuộc nằm lòng ngay từ những ngày còn ở chung với huynh đệ, Thầy Tổ. Tổ Qui Sơn Linh Hựu (711-853) Thiền sư dạy:  “Phù xuất gia giả, phát túc siêu phương, tâm hình dị tục, thiệu long Thánh chủng, chấn nhiếp ma quân, dụng báo tứ ân, bạt tế tam hữu” nghĩa là luận người xuất gia phát tâm cao thượng, tâm hình khác người thế tục, nối dõi dòng Phật, hàng phục ma quân, đền đáp bốn ân, cứu giúp ba cõi (Qui Sơn Linh Hựu thiền sư). Đoạn văn 6 câu mỗi câu 4 chữ như mở ra một phương trời cao rộng nhằm nung chí kẻ xuất tục gánh vác việc lớn, việc trọng đại, là những hồi trống giục bổn phận trách nhiệm họ phải đảm đang. Bởi vậy, sắc tướng đầu tròn áo vuông (viên đảnh phương bào) cần phải nghiêm túc, râu tóc cạo bóng láng không chừa một cọng; áo quần thô sơ gai bố, ăn uống đạm bạc không cao lương mỹ vị, không nằm ngồi giường cao sang. Kỷ luật quân sự sít sao thứ tự, ngăn nắp chỉnh tề, liêu phòng Tăng xá, Phật điện Tổ đường, vườn cảnh sân chùa,… đâu đâu cũng phải cho gọn gàng, sạch sẽ. Việc hầu như bắt buộc mỗi ngày hai thời công phu bái sám nên phải thức khuya dậy sớm không còn chọn lựa nào khác. Mỗi mỗi cung cách đi đứng, nằm ngồi đúng oai nghi phép tắc

     Học từng phép tắc oai nghi

     Nói năng cử động, đứng đi ngồi nằm.

     Mặc dù vậy, tuổi trẻ vẫn ham chơi, tập khí đan kết sâu dày, lòng tham như núi… đâu theo nổi Nội Quy của thiền môn, có hôm ngủ nướng bỏ cả thời công phu khuya, sáng ra Thầy cả hỏi Chúng Trưởng những ai không lên chánh điện hồi khuya, đưa ra quỳ hương giữa chúng. Thế là bị ít nhất cũng một vài mạng! Từ “mạng” dùng hơi bạo một chút, vì quí chú đâu ngán quỳ hương, quỳ xơ mít còn chưa sao, nữa là! Nơi đây tôi nhắc lại thời hành điệu, đầu còn để chỏm. Chắc bên Ni chúng thoát khỏi cảnh này? Đó là một vài chi tiết áp dụng ở thiền môn, học viện đông chúng thời thập niên 50 của thế kỷ trước. Còn ngày nay thì khác, chùa viện không thể áp dụng kỷ luật nghiêm khắc như vậy được, hễ trừng phạt người vi phạm Nội Quy đúng mức thời chúng bỏ đi hết, còn lại duy nhất chỉ Ngài Viện Chủ! Thật đúng như lời Kinh nói thời kỳ mạt pháp, Phật pháp suy vong…

     Câu chuyện còn dài không sao nói hết được tôi chỉ nêu vài việc cụ thể cho những Thầy Cô sau này có dịp so sánh giữa hai thế hệ: tiền và hậu bối trong vai trò lãnh đạo của mỗi giai đoạn. Bên trên tôi dùng từ “trở lại” cõi Ta Bà độ thoát chúng sanh, trở về trong sứ mạng thiêng liêng giải thoát ít ra cho non trăm triệu người Việt thoát khỏi ách thống trị của các thế lực vô minh quốc tế trên quê hương chúng ta. Trở về bản thể chân như, Phật tánh, Niết Bàn tịch tĩnh… Những phẩm tính cao thượng cho ta hình dung lại những ngày Ni Trưởng Diệu Tâm được các đệ tử chăm nom săn sóc sức khỏe, giờ đây nhìn lên Tổ đường chùa Bảo Quang chân dung người uy nghi tọa vị trên án thờ, rồi nhìn ra phía sau sân chùa dòng sông xanh vẫn lững lờ trôi như mang theo hình bóng người quá cố khiến hàng tử đệ tủi thân và cũng mong trở về nơi chốn bình yên tịnh lạc.

     Trước khi Ni Trưởng về hầu Phật, tác giả có đến thăm vào đầu tháng 7 năm 2019, lúc đó sắc diện Ni Trưởng vẫn sáng ngời, tâm trí còn minh mẫn, biết phân biệt người quen kẻ lạ, và cũng thích nghe những vần thơ đạo ngọt ngào nhẹ nhàng thanh thoát. Nhắc lại nơi đây hình ảnh mới ngày nào để hồi tưỏng lại cuộc chia tay nơi sân chùa Bảo Quang hôm đó gồm 8 người: chúng tôi (Thích Bảo Lạc), Ni Trưởng Diệu Tâm, Sư cô Tuệ Đàm Nghiêm, Phù Vân, Phương Quỳnh, bác sĩ Trâm, Nguyên Đạo và Nội tướng của anh. Lúc đó tâm hồn nhẹ lâng, tôi đề nghị ngâm thơ, mọi người hưởng ứng liền, vì rất hiếm cơ hội thế này. Thế là tôi được đề nghị mở đầu, nhưng từ chối và nói chỉ biết tụng kinh chứ không biết ngâm thơ. Mấy anh không chịu nói:  Hòa Thượng không ngâm thơ, nhưng Thầy làm thơ với bút hiệu Sông Thu, xin cho đại chúng được nghe một bài ưng ý nhất. Thơ rằng; Thu đã sang rồi ai có hay, cỏ cây thay áo dáng thân gầy, lá vàng lác đác lìa rơi rụng, tiếc nuối vờn lên thoảng gió bay… và đọc tiếp khổ thơ áp chót bài “ Thu Sang”

 

Thu đã sang rồi Muội có hay

Tổ Thầy trông cậy những ai đây

Này huynh, này đệ, này tỷ muội

Đạo pháp chung lòng quyết dựng xây…

(Sông Thu)

 

     Cảnh sắc thu trầm mặc yên lắng thích hợp với tâm hồn thi nhân, qua tứ thơ gợi hình cỏ cây tiêu điều gầy đét, lá vàng rơi lả tả theo từng cơn gió thoảng; chúng còn lơ lững như nuối tiếc điều gì chưa chịu lao nhanh xuống đất… Ý thơ chuyển tải hai khía cạnh: đạo pháp và môn phong pháp phái. Đạo pháp do Thầy Tổ khéo duy trì phát huy Phật pháp và môn phong gồm chung bốn chúng đệ tử Tam Bảo xiển dương sâu rộng công hạnh độ sanh như hương chiên đàn lan tỏa khắp muôn nơi. Đó là sứ mạng của sứ giả Như Lai, huynh đệ, tỷ muội cùng nhau chung sức gánh vác cơ đồ cho ngọn đèn chánh pháp sáng mãi đem lại lợi lạc hữu tình chúng sanh.

     Quý độc giả chắc còn nhớ lời cổ nhân dạy: sống gởi thác về, có nghĩa là người sống nương thân nơi cõi tạm trần gian hay cõi ta bà kham nhẫn này; thác là qua đời, lìa cõi tạm như nói thác sanh, thác hóa tức sang qua thế giới bên kia, nơi đó có Bồ Tát, Thánh Chúng, Phật tiếp dẫn về cõi Tây Phương Cục Lạc, ai chẳng hoài mong? Chỉ trừ bậc thượng thiện nhân phát đại nguyện diên trì thọ mạng nơi cõi tục trần gian này để đưa vớt người qua biển trầm luân sanh tử. Khi nào xong bổn nguyện các Ngài liền trở về chốn tịch tĩnh vô tung...  

    Lời cuối:

 

Dàn bao trận chiến trong Tâm

Ác bại, thiện thắng Diệu âm công đầu

Như Lai tạng hằng thẩm sâu

Pháp thân thanh tịnh nhiệm mầu viên dung.

 

Thích Bảo Lạc

Thiền Lâm Pháp Bảo,

Sydney 16.7.2021 Tân Sửu

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/01/201921:03(Xem: 3091)
Thời gian là cái gì thật mầu nhiệm, không hình không tướng, tưởng như nó dửng dưng, lạnh lùng trước muôn sự, nhưng lại thầm lặng ân cần cất giữ những gì đã đi qua, rồi tùy đối tượng mà hoài niệm. Không ai nắm bắt lại được những tờ lịch đã rơi, nhưng bước chân của bao bậc hiền nhân quân tửđều như còn in hằn trong không gian khi thời điểm luân lưu trở lại theo vận hành của trời đất.
12/02/201806:16(Xem: 4306)
Thong dong mây trắng giữa trời, Thênh thang hạnh nguyện, hát lời thi ca. Yên Cát Thiền Tự chang hoà, Khơi nguồn đạo mạch, bảo toà Như Lai.
23/11/202007:52(Xem: 1684)
Phước duyên cho tôi khi được Me Tâm Tấn truyền trao gìn giữ một số thư từ còn lưu thủ bút & chữ ký của Chư tôn Thiền đức Tăng Ni vào những năm xưa xửa của thế kỷ trước. Trước, tôi đã có đôi lần giới thiệu thư từ bút tích của quý Ngài danh tăng Phật Giáo nước nhà như Ôn Trí Quang, Ôn Trí Thủ, Ôn Đỗng Minh, Ôn Đức Chơn, Ni trưởng Diệu Không, Ni trưởng Thể Quán... Hôm nay, tôi xin cung kính giới thiệu đến chư vị thủ bút và chữ ký của một bậc tôn quý vốn là cột trụ quan trọng trong ngôi nhà Phật pháp, một vị hộ pháp đắc lực của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam trong những ngày đầu của phong trào phục hưng, một thành viên cơ yếu của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất:
30/06/201306:54(Xem: 7809)
Năm nay Sư Ông Nhất Hạnh đã 87 tuổi. Nếu tính từ ngày xuất gia hồi 16 tuổi tới nay thì người đã có 71 tuổi hạ. Vậy mà Sư Ông vẫn chưa nghỉ một ngày, cứ mãi miết làm việc với một hạnh nguyện duy nhất là "Chuyển hóa khổ đau thành hạnh phúc". Nếu không viết sách thì Sư Ông Sư Ông cũng dành thì giờ viết thư pháp, biến những lời Bụt dạy thành những câu thiền ngữ cho mọi người thỉnh về nhà, treo lên và tự nhắc mình tu tập như có thầy luôn ở phòng khách nhà mình, nhắc mình nhớ làm chủ thân tâm, nắm giữ chánh niệm, ý thức sự có mặt của người mình thương, vừa có tiền cho quỹ Hiểu & Thương của Làng nuôi dạy trẻ em nghèo đói ở Việt Nam và Ấn Độ.
19/02/201308:44(Xem: 4998)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
05/12/201309:00(Xem: 8863)
Từ Tam Kỳ tôi về lại Đà Nẵng năm 1965 để hầu ôn Phổ Thiên và tiếp tục đi học tại trường trung học Phan Châu Trinh. Ôn cư ngụ tại Chùa Diệu Pháp, nhưng thường xuyên sinh hoạt tại Chùa Phổ Đà. Hai chùa cách nhau năm bảy căn nhà
16/08/201310:49(Xem: 9090)
Thượng Tọa thế danh Ngô Đình Thung, pháp danh Trừng Lộc, pháp tự Chơn Kiến, pháp hiệu Ấn Minh. Sinh ngày 20 tháng 06 năm 1948 (Mậu Tý) ) tại làng Đại Điền Đông, xã Diên Điền, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Thân phụ, ông Ngô Ký, pháp danh Trừng Phong, thân mẫu, bà Huỳnh Thị Khằng, pháp danh Trừng Tằng, song thân của Ngài đều đã mãn phần.
17/04/201301:51(Xem: 3300)
Con, Tỳ kheo ni Hạnh Thanh, vừa là môn phái Linh Mụ ; nhưng thật ra, Ôn, cũng như con và cả Đại chúng Linh Mụ đều là tông môn Tây Thiên pháp phái. Vì Ôn Đệ tam Tăng thống tuy Trú trì Linh Mụ quốc tự, nhưng lại là đệ tử út của Tổ Tâm Tịnh, Khai sơn Tổ Đình Tây Thiên, được triều Nguyễn dưới thời vua Khải Định sắc phong là Tây Thiên Di Đà tự. Ôn Cố Đại lão Hòa thượng Đôn Hậu có cùng Pháp tự chữ Giác với quý Ôn là Giác Thanh, trong Sơn môn Huế thường gọi là hàng thạch trụ Cửu Giác và có thêm một hàng gọi là bậc danh tăng thạc học Cửu Trí (Chỉ cho các ngài Trí Quang, Thiện Minh, Thiện Siệu v..v...) Cố đô Huế là vậy ; đó là chưa kể nơi phát sinh ra danh Tăng ưu tú ngũ Mật nhị Diệu (Mật Tín, Mật Khế, Mật Hiển, Mật Nguyện, Mật Thể, Diệu Huệ và Diệu Không) và cũng là nơi đào tạo tăng tài, xây dựng trường Đại học Phật giáo đầu tiên không những chỉ cho Huế mà cả miền Trung việt Nam nữa. Ở Huế thường kính trọng các bậc chơn tu thực học, đạo cao đức trọng nên thường lấy tên chùa để gọi pháp
14/08/201308:02(Xem: 6825)
Sau khi đọc lại hai bức thư của Ôn gởi cho con, một đề ngày 9/6/1994, viết trên một mảnh giấy học trò, ngang 10cm, dài 15cm. Và một với đầu đề: PL. 2547. Nha Trang, ngày 19/11 Giáp Thân, viết trên hai mặt của một tờ giấy học trò, được cắt xén vuông vức, trong đó có đoạn: “… nhận được cuốn Từng Giọt Nắng Hồng cách nay bốn ngày. Tôi đọc 12 tiếng đồng hồ mỗi ngày, vừa xong lúc 12 giờ trưa hôm nay. Tôi quyết định in nó để cúng dường Ôn Trí Thủ.”
21/04/201109:47(Xem: 4653)
Hòa Thượng THÍCH BẢO AN, húy thượng THỊ hạ HUỆ tự HẠNH GIẢI, thế danh LÊ BẢO AN, thuộc đời Lâm Tế Chánh Tông thứ Bốn mươi hai.