su ba dieu tam 3HÌNH  ẢNH  XA  XƯA

 Bài viết của TKN Thích Nữ Như Viên do Cư Sĩ Diệu Danh diễn đọc

 



 

     Qua những dòng Mail chú Phù Vân đề nghị tôi viết bài Tưởng Niệm Về Sư Bà Bảo Quang Hamburg để đăng trong số báo Viên Giác tới. Lúc đầu tôi nghĩ chẳng biết viết chi vì khi ở Việt Nam, Sư Bà tu ở chùa Bảo Quang Đà Nẵng còn tôi thì tu ở Saigon, chỉ thỉnh thoảng về Huế thăm Sư Bà tôi ở chùa Hồng Ân và vào Hội An thăm Thầy Bổn Sư ở chùa Viên Giác, ít khi đến Đà Nẵng vì không quen chùa Thầy Sư nào ở đó, chỉ quen biết quý Thầy Sư các chùa ở Hội An thôi.

     Nhưng nay viết về Sư Bà tôi lại có một hình ảnh xa xưa vẫn còn nằm trong ký ức, để tôi kể cho quý vị nghe nhé: Tôi và Sư Bà là người cùng xã Xuyên Mỹ, Quận Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Sư Bà đi tu rất sớm, còn tôi thì lúc đó tuổi còn quá nhỏ. Có một hôm tôi đang đi học lớp ba trường xã thì nghe mấy đứa bạn cùng lớp rủ nhau đi xem đám tang, tôi chạy theo đến đó đứng chen vào xem thì đột nhiên thấy một vị Sư Cô đắp y vàng có mấy người che dù màu vàng cho Sư Cô, vì lúc đó tôi còn quá nhỏ độ 9 – 10 tuổi chẳng biết chi Sư Cô tụng kinh, nhưng hình ảnh của Sư Cô mặc áo vàng che dù màu vàng đã in vào đầu óc bé nhỏ của tôi, tôi cũng không biết sau nầy tôi đi tu là do nhơn duyên của hình ảnh nầy hay không. Lúc vào xem đám tang diễn ra tôi không biết Sư Cô tên gì chỉ nghe được người mất đó là ông Thiều (hình như hôm đó là đám tang ông cụ thân sinh của Sư Cô) và sau đó nghe người ta nói Sư Cô tên là Diệu Tâm tức Sư Bà chùa Bảo Quang Hamburg bây giờ vậy. Đây là hình ảnh lúc tuổi thơ mà cho mãi đến hôm nay trải qua hơn sáu mươi năm tôi vẫn còn nhớ và viết lại để gọi là một kỷ niệm giữa tôi và Sư Bà.

     Sau nầy sau 1975 Sư Bà vào Saigon ở tôi mới có duyên gặp gỡ và quen biết mấy năm trước khi Sư Bà qua Đức. Khi Sư Bà tạm ở chùa Pháp Hội để chờ giấy tờ bão lãnh của cậu Trâm và chờ có chuyến bay, chiều chiều tôi thường đạp xe qua chùa Pháp Hội chơi với Sư Bà và Sư Cô Hạnh Tường cùng ở chung với Sư Bà lúc đó. Tôi còn nhớ hôm tiễn đưa Sư Bà ra phi trường Tân Sơn Nhất, tôi có nói là Sư Bà qua đến bên Đức nhớ gởi thư về em nhé vì em nghe người ta nói ai ra nước ngoài khi lên máy bay được tặng một đóa hoa hồng, Sư Bà có được như vậy cho em biết với nhé. Sư Bà đi rồi tôi chờ thư, sau Sư Bà gởi về nói không nhận được hoa hồng nào cả. Có lẽ tùy theo mỗi hãng máy bay và thời điểm khác nhau.

     Sư Bà qua Đức vào năm 1984, sáu năm sau tôi cũng được Hòa Thượng Phương Trượng chùa Viên Giác bão lãnh qua Đức vào năm 1990. Lúc mới qua Đức tôi được Thầy và Sư Bà bảo về chùa Bảo Quang ở. Tôi ở được gần hai năm thì tôi về lại chùa Viên Giác, sống tại đây thời gian sau về miền Nam lập Niệm Phật Đường Tam Bảo sinh hoạt mãi cho đến bây giờ mới mua được ngôi nhà mới đổi tên thành chùa Viên Quang.

     Chùa chiền Tăng Ni ở nước Đức chẳng có bao nhiêu, mỗi lần có lễ Phật Đản Vu Lan tại chùa Viên Giác quý Thầy Cô về dự lễ mới gặp nhau, và vui lúc các chùa còn được HT Phương Trượng cho về Viên Giác dựng lều nấu bán các món chay phục vụ ăn uống cho số lượng Phật tử đông đảo về tham dự lễ. Thường vào những lễ như vậy Sư Bà lúc còn khỏe cũng có mặt cùng quý Sư Cô đệ tử và Phật tử tháp tùng. Dáng người Sư Bà mảnh khảnh nhẹ nhàng, có lúc tôi tưởng như Sư Bà dễ bị gió xua bay lắm.

     Nhơn duyên cuối cùng gặp Sư Bà hôm giới đàn tổ chức tại chùa mới Khánh Anh nhân lễ Tiểu tường của Sư Ông 2014, Sư Bà làm Yết Ma cho đàn giới bên Ni, lúc đó Sư Bà đã yếu rồi nhưng Sư Bà vẫn cố gắng vì quý Thầy trong giáo hội đã gởi thư cung thỉnh Ban Giới Sư từ lâu rồi.

     Sau tôi có lần về thăm Sư Bà nhưng lúc nầy Sư Bà không còn nói được nữa chỉ ngồi xe lăn đệ tử đẩy đi. Tôi còn nhớ hôm chùa Bảo Quang tổ chức Ba Mươi Năm có mặt trên nước Đức, Sư Bà còn khỏe còn mời quý Thầy Sư quý Phật tử về tham dự đông đảo, thế mà sau đó không lâu thì Sư Bà bị yếu hẳn không nói được không đi được. Ôi ! sự vô thường chi phối con người cho đến mọi vật trên thế gian nầy thật kinh khủng.

     Hai năm gần đây cơ thể tôi cũng không mấy khỏe, do vậy mà lễ tang của Sư Bà vừa qua tôi không về tham dự, đưa tiễn Sư Bà lần cuối, lòng cũng thấy ngậm ngùi.

 

Chùa còn đó bao người thân luyến tiếc

Bóng dáng Sư Bà biền biệt nơi đâu

Còn lại đó dư âm ngày xưa cũ

Hương thời gian còn vần vũ quanh đây

 

Bảo Quang Đà Nẵng Bảo Quang Hamburg

Gót chân Người còn in dấu hai nơi

Nay đất khách chôn vùi thân tứ đại

Chưa một lần về thăm lại quê hương.

                                                                                                                                    Viên Quang hạ về, 20.07.2021

TN Như Viên

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/08/2013(Xem: 11771)
Hòa thượng họ Lâm, sau đổi họ Nguyễn, sinh năm Bính Thìn (1916), tại thôn Mỹ Trung, xã Hòa Thịnh, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ ông Lâm Du Nhân pháp danh Tâm Nghĩa, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Mua pháp danh Tâm Đắc. Hai cụ thân sinh, do có túc duyên với Tam bảo nhiều đời, nên đã hoan hỷ cho Hòa thượng xuất gia từ nhỏ và đã phát tâm mua đất kiến tạo ngôi tự viện Phi Lai tại xã Hòa Thịnh, tạo thuận duyên tu học cho Hòa hượng. Hòa thượng có 7 anh em, 5 trai 2 gái, Hòa thượng là người con thứ 2 trong gia đình. Cả gia đình đều trực tiếp tham gia vào sự nghiệp Cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc.
02/08/2013(Xem: 27611)
Do tuổi cao sức yếu đã an nhiên thị tịch tại trụ xứ chùa Dược Sư, thôn Phú An, xã Phú Hội, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, vào lúc 11 giờ 56 phút, ngày 24 tháng 6 năm Quý Tỵ (thứ Tư, 31/7/2013). Trụ thế 94 năm, 60 hạ lạp.
01/08/2013(Xem: 24528)
Bồ đề chủng tử diệu tâm Ứng thân đồng ấu nẫy mầm thiên lương Đức Thầy bình dị chơn phương Phụng thờ Phật Tổ hạnh thường khiêm cung.
30/07/2013(Xem: 17016)
Cố Thượng tọa THÍCH CHÁNH LẠC, thế danh Nguyễn Ngọc Quang, Pháp danh Nguyên An, hiệu Chánh Lạc, sinh ngày 07 tháng 12 năm Canh Dần (1950) trong một gia đình có truyền thống Phật giáo, tại thôn Khái Ðông, xã Hòa Hải huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam, nay là phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Ðà Nẵng, thuộc danh lam thắng tích Ngũ Hành Sơn - Non Nước.
19/07/2013(Xem: 14518)
Phật Giáo Việt Nam có sự gắn bó như nước và sữa với dân tộc và đất nước Việt Nam suốt quá trình lịch sử tồn tại và phát triển trên hai ngàn năm qua. Đó là sự thật lịch sử không thể phủ nhận. Trong quá trình tồn tại và phát triển đó, Phật Giáo Việt Nam đã trải qua nhiều cơn thăng trầm, vinh nhục. Nhưng chưa bao giờ Phật Giáo Việt Nam đánh mất bản nguyện hoằng dương Chánh Pháp giải khổ quần sanh và góp phần giữ nước và phát triển đất nước.
13/07/2013(Xem: 25147)
Linh Sơn Chốn Tổ Nguồn Tâm
30/06/2013(Xem: 12638)
Năm nay Sư Ông Nhất Hạnh đã 87 tuổi. Nếu tính từ ngày xuất gia hồi 16 tuổi tới nay thì người đã có 71 tuổi hạ. Vậy mà Sư Ông vẫn chưa nghỉ một ngày, cứ mãi miết làm việc với một hạnh nguyện duy nhất là "Chuyển hóa khổ đau thành hạnh phúc". Nếu không viết sách thì Sư Ông Sư Ông cũng dành thì giờ viết thư pháp, biến những lời Bụt dạy thành những câu thiền ngữ cho mọi người thỉnh về nhà, treo lên và tự nhắc mình tu tập như có thầy luôn ở phòng khách nhà mình, nhắc mình nhớ làm chủ thân tâm, nắm giữ chánh niệm, ý thức sự có mặt của người mình thương, vừa có tiền cho quỹ Hiểu & Thương của Làng nuôi dạy trẻ em nghèo đói ở Việt Nam và Ấn Độ.
23/06/2013(Xem: 10335)
Nam Mô Thanh Tịnh Pháp Thân TỲ LÔ GIÁ NA PHẬT Nam Mô Viên Mãn Báo Thân LÔ XÁ NA PHẬT Nam Mô Thiên Bá Ức Hóa Thân THÍCH CA MÂU NI PHẬT Nam Mô Vị Pháp Thiêu Thân THÍCH QUẢNG ĐỨC BỒ TÁT Nam Mô Đại Hùng, Đại Lực CHƯ BỒ TÁT Vị Pháp Thiêu Thân
22/06/2013(Xem: 12131)
Đã tròn nửa thế kỷ trôi qua kể từ ngày Hòa Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu. Thời gian đủ để chúng ta bình tâm nhìn lại sự kiện lịch sử nầy để rút ra bài học cho những bước tiến tương lai của dân tộc và cho chính mỗi con người nhỏ bé chúng ta trong cõi ta bà mê muội nầy.
17/06/2013(Xem: 14155)
1963-2013! Năm mươi năm đã trôi qua. Nửa thế kỷ là thời gian đủ dài để chúng ta có thể an nhiên nhìn lại quá khứ hầu rút ra được những bài học cho tương lai. Đối với Phật tử thì đó là một bài học về đạo lực vận dụng giữa trí tuệ và từ bi, giữa hạnh nhẫn nhục và lực đại hùng một cách hài hòa và vì lợi lạc của chúng sinh. Còn đối với tương lai dân tộc ta thì Pháp nạn Phật giáo năm 1963 đã cống hiến cho chúng ta một bài học lớn về niềm khao khát và lòng tôn trọng một cuộc sống cộng sinh trong một môi trường hòa bình, an lạc.