Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Hòa Thượng Thích Huệ Hưng (1917-1990)

20/10/201919:46(Xem: 280)
Hòa Thượng Thích Huệ Hưng (1917-1990)
HT Thích Huệ Hưng
Hòa Thượng Thích Huệ Hưng 
(1917-1990) 

Hòa thượng Pháp húy Ngộ Trí, đạo hiệu Thích Huệ Hưng, thế danh Nguyễn Thành Chẩm, thuộc dòng Thiền Lâm Tế đời thứ 39, là đệ tử Sư tổ Vạn An (Sa Đéc).

Ngài sinh năm Đinh Tỵ (1917) tại làng Mỹ Thọ, quận Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Thân phụ là cụ Nguyễn Minh Biện, pháp danh Minh Chiếu, thân mẫu là cụ Trần Thị Mậu, pháp danh Diệu Thiệt. Năm 62 tuổi, cụ bà xuất gia thọ giới Sa di ni.

Hòa thượng là con trưởng trong gia đình gồm 7 anh em. Ngài hướng dẫn và dìu dắt các em vào lộ trình giải thoát sau này như:

1/ Thượng tọa Thích Huệ Viên, trụ trì chùa Sơn Bửu (Vũng Tàu).
2/ Thượng tọa Thích Minh Cảnh [Hòa thượng], trụ trì Tu viện Huệ Quang, Chánh đại diện Phật Giáo quận Tân Bình, giảng viên trường Cao cấp Phật học Việt Nam.
3/ Ni sư Thích Nữ Như Trí (đã viên tịch năm 1978)
4/ Ni sư Thích Nữ Như Diệu [Ni trưởng], trụ trì Tu viện Diệu Đức, quận Bình Thạnh.

II. XUẤT GIA

Vốn sinh trong gia đình trung lưu phúc hậu, nhiều đời kính tin ngôi Tam bảo, sâu trồng nơi ruộng phước Tăng già, Hòa thượng sớm nhận thức cảnh trần gian ảo mộng, cuộc đời giả huyễn vô thường. Rồi một hôm, đi tham phương các thắng tích danh lam, đến núi Sập để tìm nơi tu dưỡng, Hòa thượng quyết chí ăn chay trường, hằng ngày lo niệm Phật, tụng kinh. Cơ duyên hội đủ, âu ngày xưa đã sẵn nhân lành, đến cửa Phật Vạn An, Ngài được Tổ sư cho thế phát năm 1938, vừa tròn 21 tuổi.

Từ đó yên phận tu trì, trau dồi kinh luật, gần gũi thầy hiền, bạn tốt, mong chờ ngày dự tuyển Phật trường.

Năm 1942, Tổ Vạn An khai đàn trao giới, Hòa thượng chính thức thọ Sa di. Vốn thông minh sẵn có và lòng khát ngưỡng Đại thừa, ngày đêm tinh tấn tu hành, lo phụng trì chánh giới.

Năm 1943, Tổ Vạn An biết Hòa thượng là bậc Pháp khí Đại thừa, xứng đáng ngôi Long tượng của Phật pháp, bèn quyết định cho thọ Tỳ kheo Bồ tát giới tại chùa Viên Giác ở Vĩnh Long. Sau đó ở lại chùa này an cư tu học kinh luật trong mười tháng rồi qua chùa Phước Duyên – Mỹ Tho.

Năm 1945, Hòa thượng đến học tại Phật học đường Lưỡng Xuyên – Trà Vinh được 6 tháng. Vì tình hình chiến sự trong nước, Ngài trở về học với Hòa thượng Hành Trụ tại chùa Long An – Sa Đéc.

Cuối mùa đông 1947, Ngài cầu học với Hòa thượng Thích Trí Tịnh tại Phật học đường Liên Hải – Sài Gòn.

III. HÀNH ĐẠO

Năm 1951, vì thân tâm bì quyện, Hòa thượng dưỡng bệnh tại chùa Giác Nguyên – Khánh Hội, đồng thời dạy kinh cho Tăng chúng. Cũng tại chùa Giác Nguyên này, Ngài phiên dịch kinh Duy ma cật và Kim cang giảng lục.

Năm 1954, với hoài bão “Hoằng pháp là nhà, lợi sanh là sự nghiệp” Hòa thượng đã phụ giúp Hòa thượng Thích Thiện Hòa, viện chủ chùa Ấn Quang giảng các bộ kinh Đại thừa.

Năm 1955, Hòa thượng làm Phó Liên trưởng Hội Cực Lạc Liên Hữu do Hòa thượng Thích Trí Tịnh làm Chánh Liên trưởng.

Năm 1956, Ngài sang Nam Vang dạy khóa hạ tại chùa Chuẩn Đề. Khi trở về, Ngài được mời làm trụ trì chùa Kim Huê – Sa Đéc.

Năm 1957, Giáo hội Tăng già Nam Việt mở khóa huấn luyện trụ trì “Như Lai sứ giả” tại chùa Pháp Hội do Hòa thượng Thích Thiện Hoa làm Trưởng ban và mời Ngài đảm nhiệm Phó Trưởng ban kiêm Thơ ký.

Năm 1958, Hòa thượng giảng dạy tại Phật học đường Phước Hòa – Trà Vinh.

Năm 1960, Hòa thượng mời thượng tọa Huệ Phát giữ chức trụ trì chùa Kim Huê để Ngài yên tâm bế quan thiền định.

Năm 1962, Hòa thượng xây dựng Thiền viện Tập Thành ở Bà Chiểu và làm giới sư Đại giới đàn Phật học đường Nam Việt chùa Ấn Quang.

Năm 1964, Hòa thượng làm giới sư Đại giới đàn Việt Nam Quốc Tự.

Năm 1966, giới sư Phật học viện Cao đẳng Huệ Nghiêm.

Năm 1969, Hòa thượng giảng kinh Viên Giác tại chùa Tuyền Lâm. Trong thời gian này, Hòa thượng cũng phụ trách giảng dạy tại Phật học viện Cao đẳng Huệ Nghiêm.

Năm 1970, Hòa thượng khai sơn Tu viện Huệ Quang rồi thường trụ và hành đạo tại đây.

Năm 1972, giới sư Đại giới đàn Huệ Quang – Mỹ Tho.

Năm 1973, giới sư Đại giới đàn Phước Huệ – Nha Trang.

Năm 1974, Hòa thượng làm giới sư Đại giới đàn chùa Quảng Đức – Long Xuyên.
Được mời làm thành viên Hội đồng Giáo phẩm Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và được suy cử làm Tổng lý Hội đồng quản trị chùa Ấn Quang.

Năm 1975, giới sư Đại giới đàn Thiện Hòa chùa Ấn Quang.

Năm 1982, Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ I đề cử Hòa thượng chức vụ Phó ban trị sự Thành hội kiêm Ủy viên giáo dục Tăng Ni.

Năm 1984, giới sư Đại giới đàn do Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh tổ chức tại chùa Ấn Quang, giảng dạy các trường hạ do Thành hội tổ chức, cùng giữ chức Hiệu phó kiêm giảng viên trường Cao đẳng Phật học Việt Nam cơ sở 2.

Năm 1987, Đại hội Phật giáo nhiệm kỳ II, Hòa thượng được tái cử chức vụ Phó ban trị sự Thành hội. Mùa an cư năm này, Hòa thượng làm Thiền chủ Trường hạ do Thành hội tổ chức tại tổ đình Vĩnh Nghiêm. Tháng 10/1987, Hòa thượng đi dự Đại hội Phật giáo toàn quốc kỳ II tại Hà Nội. Ngài được tấn phong Hòa thượng và được đề cử làm Trưởng ban Tăng sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Năm 1988, giới sư Đại giới đàn do Thành hội Phật giáo tổ chức.

Năm 1989, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam được thành lập, Hòa thượng được đề cử làm Trưởng ban Phật giáo chuyên môn.

Cuộc đời hành đạo và hóa đạo của Ngài rất bình dị, chơn tu thật học, nghiêm trì giới luật, xiển dương Phật pháp bằng con đường giáo dục tại miền Nam. Ngài thật xứng đáng là một Luật sư giáo thọ của Tăng Ni, Phật tử trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam nói chung và của Tăng Ni Phật tử miền Nam nói riêng vậy.

Thời gian năm tháng, bốn đại theo duyên tăng giảm, rồi ngã bệnh tại thiền sàng, chẳng bao lâu Hòa thượng thu thần viên tịch ngày 28 tháng Giêng năm Canh Ngọ.
Sống được 74 tuổi đời và dự được 46 mùa kiết hạ.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/10/201517:00(Xem: 5985)
Từ Việt Nam bay sang Đức và tôi có 1 tuần trọn vẹn với Hội Sách lớn nhất thế giới Frankfurt Book Fair. Hết chương trình về 7 thị trường sách lớn nhất thế giới, thì làm diễn giả của Hội nghị giám đốc bản quyền với sự tham gia của mấy trăm lãnh đạo các nhà xuất bản trên thế giới và rồi mỗi ngày biết bao cuộc gặp gỡ và giao lưu để mà ngày nào cũng ra khỏi nhà khi trời chưa sáng và về nhà khi thành phố đã lên đèn. Định bụng viết mấy bài về Hội sách lớn này mà đâu có kịp.
12/09/201310:07(Xem: 3231)
Tôi mới nhận được một tin đáng lưu tâm. Đó là Ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki Moon(Phan Cơ Văn) là người gốc Việt Nam có dòng dõi với Phan Huy Chú. Trước đây tôi có đọc bộ sách lịch sử về VN của Bác Sĩ Trân Đại Sĩ ở Pháp viết về dòng dõi của Hoàng Tử Lý Long Tường vào giữa thế kỷ thứ 13 tại Bắc Hàn (rất hay), sau đó được biết Ông Lý Thừa Vãng Tổng Thống Nam Hàn cũng có nguồn gốc từ nhà Lý của VN và Tổng Thống Đài Laon Lý Kính Huy cũng dòng dõi nhà Lý nầy. Nay được biết thêm Ông Ban Ki Moon của Nam Hàn cũng gốc gác từ VN. Như vậy cũng là một niềm vui, nhưng xin kiểm điểm lại việc nầy. Ở Đức, tôi có thể liên lạc với Dr. Phan Huy Oánh là người nhà với Ông Phan Huy Qúat để dò hỏi thêm việc nầy. Đây là những chứng nhân của lịch sử cần nên quan tâm.
10/08/201101:12(Xem: 1816)
Xuyên suốt lịch sử dân tộc, đã có biết bao nhiêu nhân vật với tư cách là người đứng đầu đất nước đã có những kỳ tích lẫm liệt đối với đất nước. Có nhân vật nổi bật lên trong sự nghiệp giữ nước, có nhân vật nổi lên trong sự nghiệp dựng nước, lại có nhân vật nổi lên trong sự nghiệp mở nước, hoặc có một số nhân vật có cả hai hoặc ba lãnh vực đó.
15/10/201318:40(Xem: 13564)
(Báo Viên Giác, Số 197, tháng 10-2013, Số Đặc Biệt tưởng niệm Cố Hòa Thượng Thích Minh Tâm (1940-2013)
05/09/201404:44(Xem: 8482)
Còn đây của báu trong nhà Không là ngọc bảo, không là hoàng kim Bình thường chiếc áo tràng lam Mà sao quý vượt muôn ngàn ngọc châu! Những năm cầu thực dãi dầu Sớm mai tụng niệm, đêm thâu mật trì Dòng đời mãi cuốn con đi Về nương chốn tịnh có Thầy, có Ôn… Kinh truyền ban phát khuyên lơn
05/02/202015:57(Xem: 2378)
Tôi cố tìm một tựa đề cho đúng với ý nghĩa bài viết này để tán dương hai sự kiện trùng hợp trong một ngày thật trọng đại này ( ngày 16 âm lịch tháng giêng năm Canh Tý nhằm ngày 10 /02/2020 ) thế nhưng cuối cùng chỉ đành hạ bút với 4 chữ "BẤT KHẢ TƯ NGHÌ" như các bạn đã thấy ....Và các bạn có biết hai sự kiện trọng đại gì là gì không ...kính xin được tỏ bày niềm hân hoan nhất để tiết lộ cho các bạn được rõ : Do một nhân duyên được gia nhập vào group Viber " Đại gia đình Quảng Đức " mà tôi đã đọc được Thông báo về Lễ Mừng khánh Tuế Đại thọ Đức Trưởng lão Tăng Giáo Trưởng HT.Thích Huyền Tôn, trụ trì Lăng Nghiêm Bảo Vương Tự tại Melbourne và được biết Ngài đã trụ thế 93 năm, 86 đạo lạp và 72 hạ lạp .....và hiện còn rất sáng suốt so với những người cùng tuổi ngoài đời và trong Đạo.
04/04/201101:28(Xem: 2301)
BBC Giới thiệu Đôi nét về Thiền sư Thích Nhất Hạnh, Thích Thích Nhất Hạnh là một thiền sư nổi danh trên thế giới, là một văn nhân, một thi nhân, một học giả, mà cũng là một người đấu tranh cho hòa bình. Bên cạnh đức Đạt Lai Lạt Ma thì Thầy là bậc đạo sư nổi tiếng nhất trên thế giới hiện nay. Ngoài ra Thầy còn là tác giả của trên một trăm cuốn sách, trong đó gồm có những "xếp hạng bán chạy nhất“ (bestsellers) như những cuốn Hòa Bình Từng Bước Chân (Peace is Every Step), Phép lạ của sự Tỉnh thức (The Miracle of Mindulness), Chúa nghìn đời, Bụt nghìn đời (Living Buddha Living Christ) và Giận (Anger)
13/06/201106:43(Xem: 8085)
Ôi, trong giáo pháp Phật đà của ta, việc trọng đại nhất là gì ? Con người sinh ra không từ cửa tử mà đến, chết không vào cửa tử mà đi. Thế nên người nằm non ở tổ, bỏ ngủ quên ăn, chẳng tiếc thân mạng, đều vì việc lớn sinh tử. Ở thời giáo suy pháp mạt này mà có người vì việc lớn sinh tử như Hòa thượng Liễu Quán, thật là hy hữu.
03/01/202007:26(Xem: 1108)
Biểu đồ truyền thừa các tông phái Phật giáo từ Ấn Độ đến Việt Nam: Biểu đồ I.1: Thiền tông Ấn Độ Biểu đồ I.2: Thiền Ấn Độ Đến Trung Quốc Biểu đồ I.3: Thiền Trung Quốc – Huệ Năng và Môn Đệ Biểu đồ II.1: Dòng Mã Tổ Biểu đồ II.2: Dòng Mã Tổ Biểu đồ III.1: Tông Tào Động Biểu đồ IV.1: Tông Lâm Tế Biểu đồ IV.3: Dòng Lâm Tế – Viên Ngộ Biểu đồ V: Tông Vân Môn & Pháp Nhãn Biểu đồ VI.1: Thiền Nhật Bản – Cội nguồn của Phong Trào Ngũ Sơn Thập Sát Biểu đồ VI.2: Thiền Nhật Bản – Việc truyền bá thiền Lâm Tế từ Trung Quốc sang Nhật Biểu đồ VI.3: Thiền Nhật Bản – Các chi phái của Tông Lâm Tế I Biểu đồ VI.4: Thiền Nhật Bản – Các chi phái của Tông Lâm Tế II Biểu đồ VI.5: Thiền Nhật Bản – Các chi phái của Tông Lâm Tế II Biểu đồ VI.6: Thiền Nhật Bản – Lâm Tế Chính Mạch I – Dòng Nam Phố Thiệu Minh Biểu đồ VI.7: Thiền Nhật Bản – Lâm Tế Chính Mạch II – Dòng Bạch Ẩn Biểu đồ VI.8: Thiền Nhật Bản – Đạo Nguyên và Tông Tào Động Biểu đồ VII.1: Thiền tông Việt Nam – Thiền phái Tì-ni-đa Lưu-c