Hiện Thân Đại Sỹ

14/04/202017:34(Xem: 6293)
Hiện Thân Đại Sỹ
TT Thich Minh Phat_3
Hiện Thân Đại Sỹ


Hiện thân đại sỹ giữa đời,
Nâng vàng pháp học, hiện lời danh ngôn.
Sài Thành Đức tịnh hương thơm,
Nhã âm bang Phước, dung tâm trải lòng.

Bốn mươi năm lẻ sắc không,
Đến đi hạnh nguyện, giữa hồng trần say.
Bái Phật tìm cạnh hầu Thầy,
Thanh bần pháp tướng, trí đầy Thông khôn.

Ấn Quang quyết chí tu chơn,
Thiện Hoà  cầu Bái, tâm hồn an nhiên.
Ban danh Nguyên Đức chu viên,
Tam Đàn cụ túc, gối thiền vi danh.

MINH hành bố thí tinh anh,
PHÁT tâm Bồ tát, hiện sinh giữa đời.
Khăn vai lửa chất hương thời,
Ấm lòng dạ chúng, vọng lời kinh khuya.

Đăng truyền chánh pháp huyền đưa,
Độ Tăng Ni chúng, chánh thừa âm dung.
Đức Từ Cung dâng pháp hùng,
Bang y gấm phục, Hưng trùng đại duyên.

Tám cổ tự dấu chân thuyền,
Xuân từ du hoá, trải niềm Bắc Nam.
Dự thời Ngài xã thân an,
Hạnh duyên viên hạnh, lối nhàn rong chơi.

Đi về chín phẩm đài thời,
Niệm danh đại sỹ, hát lời trong tâm.
Hai bốn năm vắng dáng tầm,
Chấp Tay khẩn nguyện, hiện thầm Đại Sư.

     Chúng con, hàng hậu học được nghe danh Ngài, nhân duyên Bái vọng bảo tháp lưu nhục thân, chúng con thành Tâm dâng nén tâm hương, kính nguyện Ngài Đàm hoa ứng thị.
    Theo tiểu sử, TT.Thích Minh Phát, thế danh Lê Nhựt Nguyên, pháp danh Nguyên Đức, pháp hiệu Minh Phát. Sinh ngày 20-6-1956 (Bính Thân) tại Chợ Lớn (nay là quận 10, TP.HCM). Thượng tọa được chư Tăng Ni, Phật tử quý kính, gần gũi với Tăng Ni sinh và tham gia nhiều công tác từ thiện xã hội. Cố Thượng tọa được cử đảm trách Phó ban Quản trị kiêm Tri sự tổ đình Ấn Quang (Q.10).
Mẫu chuyện Pháp Y:
"......TỪ CUNG THÁI HẬU:
      Đức bà là phi nhiếp của hoàng đế Khải Định, Mẹ vua Bảo Đại triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam.Khi bị Ngô Đình Diệm cho vời ra khỏi cung Diên Thọ, bà lui về sống ở căn biệt thự 79B Phan Đình Phùng.Đức Bà vẫn giữ bên mình nhiều bảo vật hoàng cung và Y Phục của vua.
       Năm Thầy Minh Phát tròn 16 tuổi, bà thỉnh thầy ra Huế để đảnh lễ. Trong dịp này ,bà đã dâng cúng Thầy chiếc áo Long Cổn của vua Khải Định, màu đen, tay rộng, trang trí rồng thăng, rồng lượn.
       Chiếc áo có hai lớp vải the giống nhau, trong màu ngà, ngoài màu đen.Và một xấp vải thổ cẩm màu vàng hoa văn tinh xảo, cùng cây phất trần cán đỏ long đen.Cổ chiếc áo như áo dài, nên thầy cho may thành áo hậu, vải lấy từ ống tay, nên khi hoàn thành chiếc áo hậu có tay ống nhỏ, còn xấp vải thì đuợc may thành ca sa.
          Khi về Nam, Thầy có dâng bộ y hậu đó lên ôn Già Lam, nhưng Ôn khước từ bảo rằng, Đức Từ Cung ở Huế quen rất nhiều Hòa Thượng, có cả ôn, nhưng lại không cúng cho ai mà cúng cho thầy, ấy là phước của thầy.Khi Ôn Già Lam tịch, thầy đã mặc bộ y hậu đặc biệt đó trong lễ Tụng Bồ Tát Giới cho ôn.
        Ngày Từ Cung Thái Hậu mất, thầy lập một bàn linh ở Ấn Quang siêu độ cho bà trong 49 ngày. Một vị Hoàng thái hậu nhân từ hiếu thảo, nhưng cuối đời phải sống trong nổi đau vằn vặt xa con, xa cháu.
        Trong hình là Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Minh Phát và bộ y hậu do Đức Từ Cung Thái Hậu cúng ..."
     Sinh thời, Thượng toạ đảm nhiệm trụ trì chùa Viên Giác, quận Tân Bình (năm 1976); năm 1978 đảm nhiệm chức Phó Giám đốc Đại Tòng Lâm (tỉnh Bà  Rịa - Vũng Tàu). Cũng trong năm này, Thượng tọa xây dựng chùa Viên Dung (xã Linh Đông, huyện Thủ Đức, TP.HCM). Năm 1992, Thành hội Phật giáo TP.HCM đã bổ nhiệm Thượng tọa trụ trì chùa Phụng Sơn (Q.11, TP.HCM).
     Năm 1993, sau Đại hội Phật giáo toàn quốc kỳ III, Thành hội Phật giáo TP.HCM lần thứ IV, TT.Thích Minh Phát được suy cử Ủy viên Ban TTXH T.Ư, Ủy viên Tiểu ban TTXH Phật giáo TP.HCM và Ủy viên Ban TTXH Phật giáo Q.10.

     TT.Thích Minh Phát đã xả báo an tường, thu thần thị tịch vào lúc 6 giờ 40, ngày 8-5-1996 (nhằm ngày 21-3-Bính Tý). Trụ thế 41 năm, 21 Hạ lạp.
     Phụng vì Ấn Quang Đường thượng, Từ Lâm Tế Chánh Tông, Tứ Thập Tứ Thế, huý Nguyên Đức, hiệu Minh Phát Thượng Toạ Giác Linh Thiền toạ.
                Tk: Thích Minh Thế
                Bút danh:Hỷ Tâm Hải Triều.
                Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang
                Ngày 13-04-2020.
                Ngày Âm Lịch: 21-03 Canh Tý.
                Viết tại Phổ Tịnh thiền vi - Hà Nội .
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/06/2012(Xem: 25045)
Kính lạy tôn dung Ngài Con xin tìm lại dấu xưa 39 năm, hai thế kỷ sao vừa Nín thở, lặng yên, đọc từng con chữ
12/06/2012(Xem: 8516)
Hòa thượng họ Đỗ, huý Châu Lân, sinh năm 1927 (Đinh Mão) tại thôn Quan Quang, xã Nhơn Khánh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Đỗ Hoạch, và thân mẫu là cụ bà Trần Thị Tú. Gia đình gồm năm người con, hai trai và ba gái; Hòa thượng Thích Đỗng Quán thứ ba, và Ngài là thứ tư. Gia đình Ngài đời đời thuần tín Tam bảo. Cha mất sớm, được mẹ chăm lo dạy dỗ. Với bẩm tánh thông minh và hiếu học, năm 11 tuổi Ngài thi đậu bằng Yếu lược. Việc này chưa xảy ra ở vùng quê của Ngài nên đích thân ông Lý trưởng đến thăm và chúc mừng. Đó là một vinh dự cho gia đình và quê hương Ngài lúc bấy giờ.
11/06/2012(Xem: 9783)
Sự nghiệp thiền sư Tăng Hội rất lớn lao. Nhờ vào những trước tác của Thầy mà ta biết được hành tướng của sự thực tập thiền tại trung tâm Luy Lâu Việt Nam và tại trung tâm Kiến Nghiệp Trung Quốc ngày xưa. Tư tưởng thiền của thầy Tăng Hội là tư tưởng thiền Đại Thừa, đi tiên phong cho cả tư tưởng Hoa Nghiêm và Duy Thức Bao giờ các chùa Việt Nam sẽ thờ tổ Khương Tăng Hội Hiện nay chúng ta đang ở thế kỷ XXI với nền văn minh rực rỡ, với nhiều thiết bị hiện đại, với mức sống rất cao, với vốn hiểu biết rất thien su khuong tang hoi.jpg
10/06/2012(Xem: 18231)
Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Chơn, thế danh Trương Xuân Bình, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1933 (Quý Dậu) tại Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, Việt Nam, là con thứ sáu trong một gia đình mười hai anh chị em. Thân sinh của Cố Trưởng Lão Hoà Thượng là cụ Trương Xuân Quảng, mất năm 1945, nguyên quán làng Kim Thành, quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, làm quan dưới thời Pháp thuộc, được bổ nhậm chức Kiểm Học (tương đương với Trưởng Ty Nha Học Chánh dưới thời các chính phủ quốc gia sau này) tỉnh Bình Thuận năm 1933 – 1939, và Đốc Học tỉnh Quảng Ngãi năm 1940 – 1945. Nhờ túc duyên với Phật Pháp, nên đến năm 1950, Cố Trưởng Lão Hoà Thượng đến Chù
06/06/2012(Xem: 17965)
Hòa thượng Thích Quảng Đức, Pháp danh Thị Thủy, Pháp tự Hành Pháp và thế danh là Lâm văn Tức, sinh năm 1897 tại làng Hội Khánh, quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa...
30/05/2012(Xem: 10982)
Tín Nghĩa tôi đến định cư Hoa Kỳ vào ngày 19 tháng 09 năm 1979, do nhị vị Hòa thượng Thích Thiên Ân và Hòa thượng Thích Mãn Giác bảo lãnh từ trại tỵ nạn Hongkong. Ngồi tính sổ thời gian thì cũng đã gỡ gần ba chục cuốn lịch. Giá như thời gian này mà ở trong tù thì cũng mục xương và chẳng bao giờ được thấy ánh sáng của thiên nhiên.
27/05/2012(Xem: 25062)
Tác phẩm Trí Quang Tự Truyện bản pdf và bài viết "Đọc “Trí Quang Tự Truyện” của Thầy Thích Trí Quang" của Trần Bình Nam
15/05/2012(Xem: 9031)
Trong đạo lập thân của người xưa – lập công, lập đức, lập ngôn– thì lập ngôn thường được cho là quan trọng nhất, vì đó là phần “hình nhi thượng”, là tinh hoa tư tưởng cá biệt của một dòng đời mang tính truyền thừa lâu dài và sâu xa cho hậu thế. Người đem hết năng lực tinh thần và tri thức của đời mình để lập ngôn thì thành nhà tư tưởng, triết gia. Người đem chất liệu đời mình để viết lại thì thành tác giả tự truyện, hồi ký.
09/05/2012(Xem: 12350)
Sự xuất hiện của Tổ sư Liễu Quán (1667-1742) như là một Bồ tát bổ xứ, thực hiện sứ mệnh lịch sử: Không chỉ duy trì và phát triển mạch sống Phật giáo Việt Nam giữa bối cảnh xã hội tối tăm, Phật pháp suy đồi mà còn thể hiện sự xả thân vì đạo; lập thảo am, ăn rong, uống nước suối, hơn mười năm tham cứu công án, tu hành đắc đạo.
28/04/2012(Xem: 9178)
Nhà văn cư sĩ Huỳnh Trung Chánh, còn có bút hiệu Hư Thân, sanh năm 1939 tại Trà Vinh, quê nội của ông. Suốt quảng đời niên thiếu ông sống nơi quê ngoại tại Cao Lãnh, tỉnh Sa-Đéc, Nam Việt Nam. - Tốt nghiệp Cử nhân Luật Khoa( 1961 ), Đại Học Luật Khoa Saigon. - Tốt nghiệp Cử nhân Phật Học (1967), Phân Khoa Phật Học và Triết Học Đông Phương, Viện Đại Học Vạn Hạnh, Saigon. Là một công chức dưới thời Việt Nam Cộng Hoà, ông đã nổi tiếng thanh liêm, chánh trực và hết lòng dấn thân để phục vụ đại đa số dân chúng Việt Nam theo hạnh Bồ Tát của Phật giáo. Ông đã từng giữ các chức vụ sau đây: - Lục sự tại Toà Án Saigon và Long An (1960 – 1962). - Chuyên viên nghiên cứu tại Phủ Tổng Thống (1962 – 1964). - Thanh Tra Lao Động tại Bộ Lao Động (1964 – 1965). - Dự Thẩm tại Toà Sơ Thẩm An Giang (1965 - 1966). - Chánh Án tại Toà Sơ Thẩm Kiên Giang (1966 – 1969) và Toà Án Long An (1969 – 1971). - Dân Biểu Quốc Hội VNCH tại Thị Xả Rạch Giá (1