Hiện Thân Đại Sỹ

14/04/202017:34(Xem: 6316)
Hiện Thân Đại Sỹ
TT Thich Minh Phat_3
Hiện Thân Đại Sỹ


Hiện thân đại sỹ giữa đời,
Nâng vàng pháp học, hiện lời danh ngôn.
Sài Thành Đức tịnh hương thơm,
Nhã âm bang Phước, dung tâm trải lòng.

Bốn mươi năm lẻ sắc không,
Đến đi hạnh nguyện, giữa hồng trần say.
Bái Phật tìm cạnh hầu Thầy,
Thanh bần pháp tướng, trí đầy Thông khôn.

Ấn Quang quyết chí tu chơn,
Thiện Hoà  cầu Bái, tâm hồn an nhiên.
Ban danh Nguyên Đức chu viên,
Tam Đàn cụ túc, gối thiền vi danh.

MINH hành bố thí tinh anh,
PHÁT tâm Bồ tát, hiện sinh giữa đời.
Khăn vai lửa chất hương thời,
Ấm lòng dạ chúng, vọng lời kinh khuya.

Đăng truyền chánh pháp huyền đưa,
Độ Tăng Ni chúng, chánh thừa âm dung.
Đức Từ Cung dâng pháp hùng,
Bang y gấm phục, Hưng trùng đại duyên.

Tám cổ tự dấu chân thuyền,
Xuân từ du hoá, trải niềm Bắc Nam.
Dự thời Ngài xã thân an,
Hạnh duyên viên hạnh, lối nhàn rong chơi.

Đi về chín phẩm đài thời,
Niệm danh đại sỹ, hát lời trong tâm.
Hai bốn năm vắng dáng tầm,
Chấp Tay khẩn nguyện, hiện thầm Đại Sư.

     Chúng con, hàng hậu học được nghe danh Ngài, nhân duyên Bái vọng bảo tháp lưu nhục thân, chúng con thành Tâm dâng nén tâm hương, kính nguyện Ngài Đàm hoa ứng thị.
    Theo tiểu sử, TT.Thích Minh Phát, thế danh Lê Nhựt Nguyên, pháp danh Nguyên Đức, pháp hiệu Minh Phát. Sinh ngày 20-6-1956 (Bính Thân) tại Chợ Lớn (nay là quận 10, TP.HCM). Thượng tọa được chư Tăng Ni, Phật tử quý kính, gần gũi với Tăng Ni sinh và tham gia nhiều công tác từ thiện xã hội. Cố Thượng tọa được cử đảm trách Phó ban Quản trị kiêm Tri sự tổ đình Ấn Quang (Q.10).
Mẫu chuyện Pháp Y:
"......TỪ CUNG THÁI HẬU:
      Đức bà là phi nhiếp của hoàng đế Khải Định, Mẹ vua Bảo Đại triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam.Khi bị Ngô Đình Diệm cho vời ra khỏi cung Diên Thọ, bà lui về sống ở căn biệt thự 79B Phan Đình Phùng.Đức Bà vẫn giữ bên mình nhiều bảo vật hoàng cung và Y Phục của vua.
       Năm Thầy Minh Phát tròn 16 tuổi, bà thỉnh thầy ra Huế để đảnh lễ. Trong dịp này ,bà đã dâng cúng Thầy chiếc áo Long Cổn của vua Khải Định, màu đen, tay rộng, trang trí rồng thăng, rồng lượn.
       Chiếc áo có hai lớp vải the giống nhau, trong màu ngà, ngoài màu đen.Và một xấp vải thổ cẩm màu vàng hoa văn tinh xảo, cùng cây phất trần cán đỏ long đen.Cổ chiếc áo như áo dài, nên thầy cho may thành áo hậu, vải lấy từ ống tay, nên khi hoàn thành chiếc áo hậu có tay ống nhỏ, còn xấp vải thì đuợc may thành ca sa.
          Khi về Nam, Thầy có dâng bộ y hậu đó lên ôn Già Lam, nhưng Ôn khước từ bảo rằng, Đức Từ Cung ở Huế quen rất nhiều Hòa Thượng, có cả ôn, nhưng lại không cúng cho ai mà cúng cho thầy, ấy là phước của thầy.Khi Ôn Già Lam tịch, thầy đã mặc bộ y hậu đặc biệt đó trong lễ Tụng Bồ Tát Giới cho ôn.
        Ngày Từ Cung Thái Hậu mất, thầy lập một bàn linh ở Ấn Quang siêu độ cho bà trong 49 ngày. Một vị Hoàng thái hậu nhân từ hiếu thảo, nhưng cuối đời phải sống trong nổi đau vằn vặt xa con, xa cháu.
        Trong hình là Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Minh Phát và bộ y hậu do Đức Từ Cung Thái Hậu cúng ..."
     Sinh thời, Thượng toạ đảm nhiệm trụ trì chùa Viên Giác, quận Tân Bình (năm 1976); năm 1978 đảm nhiệm chức Phó Giám đốc Đại Tòng Lâm (tỉnh Bà  Rịa - Vũng Tàu). Cũng trong năm này, Thượng tọa xây dựng chùa Viên Dung (xã Linh Đông, huyện Thủ Đức, TP.HCM). Năm 1992, Thành hội Phật giáo TP.HCM đã bổ nhiệm Thượng tọa trụ trì chùa Phụng Sơn (Q.11, TP.HCM).
     Năm 1993, sau Đại hội Phật giáo toàn quốc kỳ III, Thành hội Phật giáo TP.HCM lần thứ IV, TT.Thích Minh Phát được suy cử Ủy viên Ban TTXH T.Ư, Ủy viên Tiểu ban TTXH Phật giáo TP.HCM và Ủy viên Ban TTXH Phật giáo Q.10.

     TT.Thích Minh Phát đã xả báo an tường, thu thần thị tịch vào lúc 6 giờ 40, ngày 8-5-1996 (nhằm ngày 21-3-Bính Tý). Trụ thế 41 năm, 21 Hạ lạp.
     Phụng vì Ấn Quang Đường thượng, Từ Lâm Tế Chánh Tông, Tứ Thập Tứ Thế, huý Nguyên Đức, hiệu Minh Phát Thượng Toạ Giác Linh Thiền toạ.
                Tk: Thích Minh Thế
                Bút danh:Hỷ Tâm Hải Triều.
                Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang
                Ngày 13-04-2020.
                Ngày Âm Lịch: 21-03 Canh Tý.
                Viết tại Phổ Tịnh thiền vi - Hà Nội .
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/03/2013(Xem: 8584)
Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam, trước năm 1975 là một trung tâm văn hóa Phật giáo nổi tiếng lừng lẫy. Nơi đây đã quy tụ biết bao hào kiệt trượng phu, biết bao tao nhân mặc khách, biết bao giáo sư, triết gia cự phách thượng đẳng. Đặc biệt là các thiên tài xuất chúng siêu việt như Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, nổi bật nhất là Bùi Giáng, một thi sĩ kỳ dị, xưa nay chưa từng thấy xuất hiện trên bầu trời văn nghệ Việt Nam và thế giới.
11/03/2013(Xem: 8766)
Lê Quý Đôn (1726-1784) là một danh sĩ, nhà văn hóa, sử gia, sống vào đời Hậu Lê. Ông không những ba lần thi đều đỗ đầu, kinh qua nhiều chức quan, đã từng đi sứ sang Trung Quốc, mà còn là một nhà bác học, đã để lại một gia tài đồ sộ bao gồm khoảng 16 tác phẩm và nhiều thơ, phú bằng chữ Nôm khác. [1] Trong số những tác phẩm ấy, có Kiến văn tiểu lục, [2] là một tác phẩm dành riêng quyển 9 – thiên Thiền dật, để viết về Phật giáo và Thiền tông Phật giáo Việt Nam, chủ yếu là những vị Tổ thuộc Thiền phái Trúc lâm. Trong bài viết ngắn này, chúng ta thử chỉ tìm hiểu quan điểm của Lê Quý Đôn về Phật giáo, mà không bàn sâu đến phần Thiền tông Việt Nam mà ông đã chép.
21/02/2013(Xem: 9716)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái. Ngài sinh trưởng trong một gia đình Nho phong. Thân phụ Ngài tinh thông Hán học. Cả hai ông bà lại rất thâm tín Phật pháp. Do đó, Ngài được hấp thụ ngay từ thuở ấu thơ hai nền văn hóa cổ truyền của dân tộc là Khổng giáo và Phật giáo.
19/02/2013(Xem: 11502)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 13026)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24243)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10289)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8665)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8581)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.
12/01/2013(Xem: 8528)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.