Hành Trình Của Ý

21/12/201908:41(Xem: 8335)
Hành Trình Của Ý

HÀNH TRÌNH CỦA Ý

                                                              

 

Bất cứ ai sinh ra và lớn lên cũng phải cất bước chân đi trong cuộc hành trình miên viễn của dòng đời tương tục. Thế nên, giới thi nhân tự xem mình là những lữ khách dạo chơi trên mọi nẻo đường để rồi tương phùng trong cái thế giới mộng ảo trần ai: “Lang thang từ muôn kiếp, gặp nhau từ thuở luân hồi.”

Huynh đệ tỷ muội chúng tôi ở ba miền (nam, trung và bắc) từ lâu đã: “Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách, Nhật viễn gia hương vạn lí trình” trên dãi đất chữ S nước Việt, duyên đến cũng cùng nhau hội ngộ dưới mái trường Cao cấp Phật học Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh – Khóa II (1988 – 1992) thật là vui mừng biết bao!

Trải qua một chặng đường dài gần 5 năm tu học để “yêu thương và hiểu biết”, ngày mãn trường lại đến. Ai cũng tự nhận biết đây chỉ là một chặng đường kết thúc của một hành trình chưa có điểm kết. Học xong chương trình cử nhân dưới mái trường Vạn Hạnh này, anh em tự nhủ, tùy theo thiện duyên mà mỗi người tiếp tục cuộc hành đi về nẻo ý riêng biệt của mình.

Thế nhưng cuộc đời bao giờ cũng có những giá trị được xuất hiện từ trong sự vận động diệu kỳ vốn có của cuộc sống. Khi cánh cửa này khép lại thì cánh cửa kia mở ra. Trước mắt là một viễn cảnh mới đón chào, trên đầu là bầu trời mênh mông bát ngát, dưới đất là muôn vạn đường lối rẽ cho những bước chân vững chãi của mỗi người.

Thời ấy thông qua mối giao hữu hợp tác giữa Việt Nam và Ấn Độ, cùng với uy tín của cố Hòa thượng Viện trưởng Thích Minh Châu và Hòa thượng Viện phó Thường trực Thích Chơn Thiện Trường Cao cấp Phật học Việt Nam, các Tăng Ni sinh Khóa II, III, lần lượt được phép xuất ngoại đi về xứ Phật - Ấn Độ du học ở cấp cao hơn như là thạc sĩ, tiến sĩ và hậu tiến sĩ Phật học.

Có lẽ vậy, trong số huynh đệ tỷ muội hồi ấy, có sư Thích nữ Giới Hương Khóa II lên đường du học sang Ấn Độ tu học như bao người khác. Trước đó, Sư cô là người trong lớp ai cũng biết. Đó là mẫu người cần mẫn siêng năng học mọi lúc mọi nơi, tranh thủ cả giờ ra nghỉ để tìm kiếm từng con chữ (sư cô không tham dự các tour di Đạt Lạt hay tour nghỉ do trường tổ chức để có thời gian học 1 lúc hai đại học văn khoa và Phật học).

Như con ong chăm chỉ miệt mài tìm hoa - hút mật – rồi tỏa hương cho đời sau này, sư cô nhiệt tâm tinh cần hoàn thành cử nhân Phật học vào năm 1992, rồi đến cử nhân Văn chương Việt Nam vào 1994. Có một nền tảng khá vững chắc, sư cô tự tin lên đường du học ở xứ Ấn với khát khao mong cầu được tiếp thu tri thức Phật học, thực hành giáo điển của Phật. Đó là sự khởi đầu mới, cho một lộ trình mới trong cuộc hành trình bất tận đến một thế giới tự do – an lạc – giải thoát mà bất cứ ai là đệ tử của Phật cũng phải hy vọng và đợi chờ.

Mười năm sống và trải nghiệm trên đất nước Ấn Độ, xứ sở cội rễ - mạch nguồn Phật giáo, là thời gian không phải dài, cũng không phải ngắn, nhưng thiết nghĩ, có khi nó cực kỳ quan trọng cho một đời người. Chính thời gian này làm cho sư cô “lớn lên và trưởng thành” hơn, để rồi vào năm 2003, sư cô tốt nghiệp Tiến sĩ Phật học tại Đại học Delhi. Có lẽ đây cũng là thời gian, sư cô hạnh phúc nhất, chỉ chuyên tâm học Phật, tu theo Phật như sở nguyện của mình.

Chưa dừng lại đó, cuộc đời còn có nhiều lối đi và cũng khó biết trước được. Cái duyên đến vùng đất mới để hành đạo sau khi tốt nghiệp Tiến sĩ Phật học. Sư cô định cư tại Hoa Kỳ vào năm 2005. Ở đất khách quê người, từ những ngày đầu tiên, sư cô cũng  tinh cần vượt khó vừa học, vừa thuyết giảng, vừa tu tập để rồi hương hoa quả ngọt cũng trổ đầy. Vào năm 2015, sư cô tốt nghiệp Cử nhân Văn tại Đại học Riverside, California và đang theo học chương trình Cao học Văn tại trường. Xem ra, dù ở phương trời nào, chí nguyện sở cầu của sư cô cứ mãi thắp lên soi sáng con đường Duy tuệ thị nghiệp như là hành trang để cất bước chân vững chãi vào đời.

Có lẽ đây là hạnh nguyện, là đặc trưng con người của sư cô trong hành trình miên viễn hướng tâm về miền đất an lạc đầy hương thơm của Giới bay tỏa, qủa ngọt của Định từ bi và ánh nắng mặt trời Tuệ giác rọi chiếu. Chính vì vậy, nhiều khi ngẫm lại, cuộc hành trình này, đối với sư cô là không có điểm khởi đầu và cũng không có điểm kết thúc.

Mà kết thúc sao được, trong 40 năm xuất gia học đạo cũng là 40 năm nghiên tầm kinh điển, tùy duyên hóa đạo. Năm 2000, sư đã thành lập chùa Hương Sen, Bình Chánh, Sài Gòn (Việt Nam) và năm 2010 - đến nay, sư đã khai sơn thành lập và là trụ trì chùa Hương Sen, thành phố Perris, tiểu bang Cali, Hoa Kỳ. Cho đến giờ này một mình qua lại 2 ngôi chùa, cách nhau nửa vòng trái đất, ấy vậy pháp âm vẫn vang mãi 2 đạo tràng ở 2 hai chùa xa cách nhau. Lý thú hơn nữa, sư cô còn tích cực tham gia giảng dạy tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh nữa. Có lẽ, nhiều khi Phật cũng mỉm cười, Bồ tát thì hoan hỷ, Hộ pháp thường ủng hộ, nên sư cô “tùy duyên vui với đạo” mà làm Phật sự không dừng nghỉ.

Bao nhiêu công đức, bấy nhiêu thành quả của sư cô đều được hóa hiện trong tủ sách Bảo Anh Lạc, trong đó có 40 công trình nghiên cứu về văn hóa, văn học, Phật học, âm nhạc Phật giáo đã được xuất bản và tái bản nhiều lần bằng Anh ngữ và Việt ngữ đến tay bạn đọc. Thời gian 40 năm trong dòng sống sinh tử này quả là quý báu, quý báu hơn lại có 40 tác phẩm chào đời, thật ấn tượng biết bao.

Có lẽ đây là lý do vì sao mọi người sống trong đạo, yêu mến đạo, trên hết là những đệ tử, học trò của sư cô, quý mến sư cô muốn thỉnh cầu sư cô thực thi ấn phẩm thứ 41 ra mắt độc giả gần xa với nhan đề: Tuyển tập 40 Năm tu học và Hoằng pháp của Ni sư Giới Hương, như kết thúc một chặn đường trong cuộc hành trình bất tận của người học Phật và tu theo Phật.

Bất chợt tôi nhớ như in lời dạy của thiền sư Nhất Hạnh:

“Chẳng biết rong chơi miền Tịnh độ,

Làm người một kiếp cũng không xong”

 

 

 

 

                                                      Học Viện Phật Giáo Việt Nam, ngày 18/11/2019

                                                                                                                                                                                                            TK. Thích Phước Đạt

      ([email protected])

-Phó Viện Trưởng VNCPHVN, TPHCM kiêm

Giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Văn Học PGVN

-Phó Viện Trưởng HVPGVN, TPHCM

                                                             Kiêm Trưởng Khoa Phật Giáo Việt Nam

                       -Ủy Viên Ban Chấp Hành Hội Nghiên Cứu Văn Học VN tại TpHCM

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/03/2013(Xem: 8750)
Lê Quý Đôn (1726-1784) là một danh sĩ, nhà văn hóa, sử gia, sống vào đời Hậu Lê. Ông không những ba lần thi đều đỗ đầu, kinh qua nhiều chức quan, đã từng đi sứ sang Trung Quốc, mà còn là một nhà bác học, đã để lại một gia tài đồ sộ bao gồm khoảng 16 tác phẩm và nhiều thơ, phú bằng chữ Nôm khác. [1] Trong số những tác phẩm ấy, có Kiến văn tiểu lục, [2] là một tác phẩm dành riêng quyển 9 – thiên Thiền dật, để viết về Phật giáo và Thiền tông Phật giáo Việt Nam, chủ yếu là những vị Tổ thuộc Thiền phái Trúc lâm. Trong bài viết ngắn này, chúng ta thử chỉ tìm hiểu quan điểm của Lê Quý Đôn về Phật giáo, mà không bàn sâu đến phần Thiền tông Việt Nam mà ông đã chép.
21/02/2013(Xem: 9693)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái. Ngài sinh trưởng trong một gia đình Nho phong. Thân phụ Ngài tinh thông Hán học. Cả hai ông bà lại rất thâm tín Phật pháp. Do đó, Ngài được hấp thụ ngay từ thuở ấu thơ hai nền văn hóa cổ truyền của dân tộc là Khổng giáo và Phật giáo.
19/02/2013(Xem: 11487)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 12876)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24204)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10168)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8642)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8550)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.
12/01/2013(Xem: 8473)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.
07/01/2013(Xem: 9626)
Phần lớn độc giả biết nhiều đến các tiểu luận và các tập thơ phản chiến, nhưng ít người biết đến những bài thơ Thiền của Nhất Hạnh. Tôi xin trích một bài được nhà xuất bản Unicorn Press xuất bản trong tâp thơ Zen Poems của Nhất Hạnh vào năm 1976 (bản dịch Anh Ngữ) của Võ Đình. Bài này được in vào tuyển tập thơ nhạc họa vào mùa Phật Đản 1964