Một Chữ Duyên

21/12/201911:05(Xem: 7395)
Một Chữ Duyên

MỘT CHỮ DUYÊN

Bắt đầu từ một chữ duyên do lòng tôi (Tịnh Bình) và bà xã Quảng Trí (tiểu bang Connecticut) luôn hướng nguyện muốn được thực hiện một chuyến hành hương đất Phật. Từ trang nhà www.huongsentemple.com và Thư Viện Hoa Sen, có thông báo tổ chức 3 đoàn hành hương đi năm quốc gia Phật giáo trong đó đoàn số 2 đi Ấn Độ là chính do ni sư Giới Hương - Trụ trì chùa Hương Sen tại nam California, thành phố Perris hướng dẫn, thế là chúng tôi liên lạc ghi danh Qua trang nhà website huongsentemple, chúng tôi biết được: Ni sư TN Giới Hương là một vị xuất gia uyên bác qua sở học và công phu hành trì nghiêm mật theo truyền thống cố sư bà Hải Triều Âm, một vị ni trưởng Bắc Đẩu của ni giới Việt Nam, nên chúng tôi rất phấn khởi muốn tham gia.

Đoàn được 21 vị từ nhiều tiểu bang của Hoa Kỳ đi thăm Phật Bà Quan Âm Nam Hải, núi Phổ Đàn và sau đó đi về Ấn Độ thăm Phật tích. Dưới sự sắp xếp khéo léo của Ni sư trưởng đoàn, chuyến đi thuận duyên, không vất vả, sức khoẻ tốt và ngày nào cũng được tụng kinh, pháp đàm, đi nhiễu niệm Phật và nghe lịch sử về di tích. Ni sư cũng kêu gọi cả ba đoàn thực hiện các công cuộc từ thiện đóng góp tịnh tài cho một trường cấp một tại Kushinagar nơi Đức Phật nhập niết bàn, phân phát nhu yếu phẩm và thực phẩm cho 150 gia đình tại nhà khách cũng là tu viện của Hoà thượng tiến sĩ Sudmeda tại Sarnath. Với tâm từ, hoà thượng đã đích thân đưa đoàn chúng tôi thăm vườn nai Sarnath và ngài  giải thích một số địa điểm có tính đặc biệt trong lịch sử Phật giáo và ban quà lưu niệm cho đoàn chúng tôi trước khi giã từ về Mỹ. Ngoài việc thăm viếng tứ động tâm, một điểm son đáng nhớ khác là đoàn chúng tôi đã đi thăm viếng và tặng quà cúng dường lên 27 vị quý thầy cô tăng ni Việt Nam du học tại trường đại học New Delhi với sự tổ chức tiếp đón của Giáo sư Thượng toạ Thích Hạnh Chánh - Chủ tịch hội sinh viên phân khoa Phật Học. Chúng tôi biết với công đức cúng dường này, đoàn sẽ gặt nhiều thuận duyên phát sinh phước báu trí tuệ vì chư tôn đức tăng ni du học sinh là những vị đang gieo mầm hạt giống trí giác Phật. Qua buổi trò chuyện  thăm viếng, chúng tôi biết ra năm xưa ni sư cũng theo học đại học Delhi này trong mười năm (1995-2005) cùng thời với thượng toạ Hạnh Chánh tuy nhiên thượng toạ đã ở lại Delhi để dạy học, còn Ni sư Giới Hương tiếp tục du học Mỹ.

 Tại đây tấm lòng và nguyện vọng của ni sư được bày tỏ rõ ràng: ni sư không quên ngôi trường cũ thân thương và sự khó khăn của các thế hệ tu sinh sau, nên đã tổ chức chuyến hành hương Ấn Độ cũng nhằm mục đích thăm viếng và khuyến khích tinh thần các quý thầy cô tăng ni sinh trong tình đạo thắm thiết, đồng thời chia sẻ kinh nghiệm học đại học học Mỹ, chương trình Cử Nhân Văn Chương và hoằng Pháp tại Hoa Kỳ. Ni sư ngỏ ý hướng dẫn và giúp đỡ chỗ ăn ở cho các vị, đặc biệt Ni giới, sau khi tốt nghiệp tại Ấn Độ nếu muốn qua đây đi theo con đường du học của ni sư.

Trở lại chuyến hành trình hành hương, sự kham nhẫn nhân sự, khí hậu, môi trường, thực phẩm, sức làm việc và tấm lòng từ ái của ni sư Giới Hương, khiến chúng tôi vô cùng khâm phục. Đây là sự biểu hiện thầm lặng của công phu tu tập và đại hoằng thệ nguyện rõ ràng qua các quan tâm thăm viếng của Ni sư đến các thế hệ sau này. Ni sư có chương trình xây dựng một Ni viện tại vùng đất thuộc cơ sở chùa Hương Sen, để đào tạo chư ni tương lai, nối tiếp các bậc tiền bối quảng bá hoằng pháp độ sinh, đem ánh sáng trí tuệ của Đức Bổn Sư ra ngoài phạm vi cộng đồng Phật tử Việt Nam. 

Ni sư hướng dẫn tu tập đạo giác ngộ để phục vụ nhân sinh. Sự nghiệp viết sách, thi, nhạc, du hành thuyết Pháp nhiều nơi trong và ngoài nước trong đó có cho các tù nhân tại các trại tù Hoa Kỳ cùng chương trình dạy các lớp Phật học tại các học viện Phật học tại Việt Nam. Với lộ trình rõ ràng cùng lời sách tấn, nâng đỡ,  ni sư là nguồn sức mạnh tinh thần cho nhiều vị ni trên thế giới và ở quê nhà, nguyện theo bước chân ni sư giáo thế độ sinh. Chúng tôi vô cùng tri ân ni sư đã khó công tổ chức chuyến hành hương đất Phật, thăm viếng bốn động tâm liên quan đến cuộc đời đức Phật (đản sinh, thành đạo, chuyển bánh xe Pháp và nhập Niết Bàn) để tự thân cảm nghiệm các thánh tích thiêng liêng như được đề cập trong kinh sách, để phát sinh chánh tín mạnh mẽ bất động nơi ba ngôi Tam Bảo. Thêm vào đó trong suốt chuyến hành hương, mười lăm ngày ngoài trừ thời gian ngủ đã có trọn đủ mười hạnh lành tuỳ duyên, tuỳ hoàn cảnh, để hành xử làm sinh khởi thiện tâm như các hạnh bố thí, trì giới, tu tiến hành tứ niệm xứ, được cung kính cúng dường, và gần gũi bậc xuất gia đáng kính, thường xuyên được nghe ni sư giảng Pháp trên các chuyến xe di chuyển đường xa, chúng tôi có nhiều cơ hội chia xẻ kinh nghiệm Pháp học và hành cùng các vị Pháp lữ của hai đoàn 1 và 2 hợp lại trong những ngày chuyển tiếp tại Trung Quốc. Chúng tôi rất hạnh phúc với các điều tốt lành mà cá nhân chúng tôi nói riêng và toàn đoàn nói chung đã thực hiên;  đồng thời chúng tôi không quên việc hồi hướng các công đức về cha mẹ cùng các con được an vui và có được nhân duyên phát sinh phước báu trí tuệ trong cuộc đời, ngoài ra chúng tôi cũng thường bảo nhau sẽ tu sữa nếu có những thiếu sót suốt tiến trình hành hương.

 Trong khi đặt bút ghi lại tâm tư mình, bắt đầu về “Một Chữ Duyên” với ni sư Giới Hương, một niềm hỷ lạc nhẹ nhàng đã khởi lên và thấm nhuần trong thân tâm. Ký ức về các buổi vấn đáp Pháp học và Pháp hành đã được ni sư chỉ dạy thông suốt qua kiến thức uyên bác cả hai truyền thống Nguyên Thuỷ (Theravada) và Phát triển (Mahayana) của Ni sư. Nhờ đó, chúng tôi có sự hiếu biết nhiều hơn về tư tưởng, nhận ra mẫu số chung và điểm dị biệt đặc biệt trong khía cạnh thực hành giữa hai truyền thống một cách tổng quát. Chúng tôi thầm nguyện cố gắng tinh cần tu học theo gương ni sư và theo khả năng khiêm tốn góp phần trợ duyên ni sư trong đại nguyện xây dựng viện Phật Học tại Perris, nam California.

 

Connecticut, ngày 30 tháng 11 năm 2019

Phật tử Quảng Trí và Tịnh Bình

[email protected]

 

ns-gioi huong (1)

Tại Chùa Indo-Srilanka, Varanasi

 

ns-gioi huong (2) 

Chánh Hảo, Ns Giới Hương, Sc Diệu Nga, Sc Diệu Hoa,

Quảng Trí và Tịnh Bình cùng hai Sư cô Tây Tạng

Tại trường đại học Tây Tạng, Lộc Uyển

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/03/2013(Xem: 18162)
Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư, Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 01 (2007, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 02 (2008, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 03 (2019, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 04 (2010, Đức) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 05 (2011, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 06 (2012, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 07 (2013, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 08 (2014, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 09 (2015, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 10 (2016, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 11 (2018, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 12 (2020, Úc)
18/03/2013(Xem: 8634)
Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam, trước năm 1975 là một trung tâm văn hóa Phật giáo nổi tiếng lừng lẫy. Nơi đây đã quy tụ biết bao hào kiệt trượng phu, biết bao tao nhân mặc khách, biết bao giáo sư, triết gia cự phách thượng đẳng. Đặc biệt là các thiên tài xuất chúng siêu việt như Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, nổi bật nhất là Bùi Giáng, một thi sĩ kỳ dị, xưa nay chưa từng thấy xuất hiện trên bầu trời văn nghệ Việt Nam và thế giới.
11/03/2013(Xem: 8808)
Lê Quý Đôn (1726-1784) là một danh sĩ, nhà văn hóa, sử gia, sống vào đời Hậu Lê. Ông không những ba lần thi đều đỗ đầu, kinh qua nhiều chức quan, đã từng đi sứ sang Trung Quốc, mà còn là một nhà bác học, đã để lại một gia tài đồ sộ bao gồm khoảng 16 tác phẩm và nhiều thơ, phú bằng chữ Nôm khác. [1] Trong số những tác phẩm ấy, có Kiến văn tiểu lục, [2] là một tác phẩm dành riêng quyển 9 – thiên Thiền dật, để viết về Phật giáo và Thiền tông Phật giáo Việt Nam, chủ yếu là những vị Tổ thuộc Thiền phái Trúc lâm. Trong bài viết ngắn này, chúng ta thử chỉ tìm hiểu quan điểm của Lê Quý Đôn về Phật giáo, mà không bàn sâu đến phần Thiền tông Việt Nam mà ông đã chép.
21/02/2013(Xem: 9756)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái. Ngài sinh trưởng trong một gia đình Nho phong. Thân phụ Ngài tinh thông Hán học. Cả hai ông bà lại rất thâm tín Phật pháp. Do đó, Ngài được hấp thụ ngay từ thuở ấu thơ hai nền văn hóa cổ truyền của dân tộc là Khổng giáo và Phật giáo.
19/02/2013(Xem: 11536)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 13132)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24342)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10380)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8692)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8625)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.