Sáng mãi hạnh Thầy

12/06/201805:25(Xem: 7065)
Sáng mãi hạnh Thầy


ht thich trung hau 2

Sáng mãi hạnh Thầy 
( tưởng nhớ cố Hoà thượng Thích Trung Hậu)

 

Cơn gió hạ, chợt về sớm... Vạn Hạnh thoáng buồn, bậc cầu thang vắng dáng Thầy. 

  Sáng nào cũng vậy, Thầy thức sớm, sau những thời kinh sáng. Chúng con vừa thay y áo là đã nhìn rõ bóng Thầy có mặt ở dưới gốc mận. Thầy cặn kẽ hỏi han từng chú, hôm nay làm gì? 

Sau đó, Thầy đi dùng trà! 

“ Mở cửa chép một tờ kinh

Lên xe về Huế tìm kinh cho Thầy 

Ân sư Thuận hoá cố đô

Vào ra tự tại chứng thiền Vô sanh”

   Căn phòng của thầy toàn là sách, cả một bàn sách, giá sách, giường sách và đường sách. Thường thường ngoài sách ra Thầy chỉ dành trọng căn phòng để tiếp ngự các bậc cao học, bậc đèn sách và những bằng hữu đạo vị. 

 Căn phòng “ trượng thất Duy ma tuy bé nhỏ, muôn toà sư tử vẫn đi vào”. Thầy Hải Ấn, giáo sư Cao Huy Thuần, thầy  Quang Nhuận, bác Võ Đình Cường và trước đây Thầy cũng hầu Ngài Thiện Siêu. Trước đây cứ nghĩ Thầy xa lạ, Thầy không có thời gian để gần chúng lắm. Nhưng tới một hồi rồi, ai cũng cảm nhận “ Thầy dành đời mình cho sách và cho Đức Bổn sư Trí Quang” .  Nên Thầy rất ít có thì giờ riêng để tự chăm sóc cho mình. Những ngày tháng Bổn sư đang còn ngự viên ở Già Lam, Thầy còn rất kỳ công để lo đi lại “hầu sách” cho Đức Bổn sư. 

 Thầy đi bằng chiếc xe gắn máy 86, nhìn sáng sáng, chiều chiều từ Vạn Hạnh ; Thầy lại sang tu viện Quảng Hương Già Lam. Có lần con được đưa Thầy đi vì hôm đó, Thầy ngồi phía sau để ôm sách bản thảo về, mai lại đón Thầy tới nhà in tổng hợp T.p Hồ Chí Minh. 

   Có thể nói cả lòng Thầy là cả lòng sách, đến ba miền Phật giáo, Thầy cũng gói sách mang theo. Con xin mạn phép nói với “ thường những ai sống vì kinh sách thường độc hạnh duy ý- nẻo về của ý” để mở mang nước Phật và để trí tuệ nhà Phật chỉ một đại tạng. Chính vì thế, con đã hằng mong mỏi từ xa học tập theo dấu Bút của Thầy. 

ht thich trung hauht thich trung hau 3


Con cũng hiểu ra, vì sao cuộc đời Thầy lại cưu mang bộ Phật giáo ( Tăng già, cư sỹ ) Thuận hoá toàn tập của Thầy. 

Thầy luôn luôn có ý đạo, nối tiếp tiền bối, giữ gìn đạo mạch. Không gì hơn đó là ghi dấu lịch sử để làm tròn nguồn sống từ đời này qua đời khác, đến mọi thế hệ con người. Biết được  con đường chính đi tới sẽ thấy ánh sáng của đạo như nhiên. 

  Thời con còn làm tăng trú ở thiền viện Vạn Hạnh là  lúc Thầy mới nhờ con “ bâng cơm hầu Thầy” . Ngoài ra Thầy sợ tổn hạnh, phiền đạo nên Thầy hiện ra sự giản dị, hoà đồng. Chưa bao giờ con thấy Thầy thể hiện lớn- nhỏ trong từng mỗi cử chỉ, mỗi thời bố tát khoan thai, đọc giới mà Thầy sợ đọc to. Khi về liêu phòng Thầy nói nhỏ với con “ đọc nhỏ để mình còn nhớ giới cho mình”. 

   Sau bao năm đi qua, bao người đến đi rồi vắng ... 

sau bao cuộc thăng rồi đến trầm cho đến trở lại...

Nhưng đôi dép thái con mua về dâng Thầy mang, sau mười năm con cũng còn thấy đó. Thấy đó để chứng nghiệm , minh chứng cho lòng của Thầy “ không bỏ” hạnh của Thầy chưa quên. Lần cuối cùng gặp Thầy ở nhà tang lễ cố Hoà thượng Đức Chơn. Thầy thấy con, Thầy kêu lại ngồi xuống và ngồi đó với Thầy. Thầy nói “ Thầy vừa Huế vô đây! 

Sài gòn 12/06/2018

Kính hầu Thầy 

Thích Pháp Bảo 





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 9166)
Đức Đại Lão Hòa Thượng Chánh Thư Ký Xử Lý Viện Tăng Thống GHPGVNTN là thế hệ thứ 8 của phái Thiền Thiệt Diệu Liễu Quán, Pháp danh Trừng Nguyên, Hiệu Đôn Hậu. Xuất gia và thọ cụ túc với Hòa Thượng Bổn sư là Tổ Tâm Tịnh, khai sơn chùa Tây Thiên Huế, sau các Pháp huynh là quý Hòa Thượng Giác Nguyên, Giác Viên, Giác Tiên, Giác Nhiên...
09/04/2013(Xem: 10895)
Từ ngày 18-23/5/1996 HT.Thích Minh Châu, Phó CT kiêm Tổng thư ký GHPGVN, Viện trưởng Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, Hiệu trưởng trường CCPHVN... đã lên đường đến Thái Lan để nhận bằng Tiến Sĩ Phật Học Danh Dự (Honarary Doctorate Degree in Buddhist studies) tại Đại Học Phật Giáo Mahachulalongkornrajvidyalaya, Thủ đô Bangkok, Thái lan.
09/04/2013(Xem: 13163)
Thiền sư THÍCH ĐỨC NHUẬN, pháp hiệu Trí Tạng, thế danh Đồng Văn Kha, sinh ngày 14 tháng Chạp năm Quí hợi (thứ bảy, ngày 19 tháng giêng, 1924). Chính quán : làng Lạc Chính, xã Duyên Bình, huyện Trực Ninh, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Thân phụ là Đồng Văn Trung và thân mẫu là bà chính thất Hà Thị Thìn hiệu Trinh Thục (cả hai vị đều đã mãn phần). Là con thứ tư trong một gia đình thanh bần - dòng quí tộc. Ngài có 2 anh, 1 chị và 3 người em dì bào (2 trai, 1 gái).
09/04/2013(Xem: 7665)
Hòa thượng Thích Quảng Đức, thế danh là Lâm Văn Tuất sinh năm 1897 (Đinh Dậu) tại thôn Hội Khánh, xã Vạn Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Thân sinh là cụ Lâm Hũu Ứng và bà Nguyễn Thị Nương.
09/04/2013(Xem: 10469)
Hòa Thượng Bửu Chơn thế danh là Phạm Văn Thông, sinh năm Tân Hợi (1911) tại Sa Đéc – Đồng Tháp. Thuở thiếu thời Ngài sinh sống tại đất nước Chùa Tháp Campuchia, do đó Ngài thấm nhuần Phật Giáo Nam Tông vốn là quốc giáo của Vương quốc này. Sẵn có túc duyên Phật pháp nên vào năm 1940, Ngài xuất gia thuộc hệ phái Nam Tông. Sau đó Ngài vào rừng chấp trì hạnh đầu đà (Dhatanga) suốt mười hai năm. Năm 1951 Ngài được Phật tử Việt Nam cung thỉnh về Sài Gòn để truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy
09/04/2013(Xem: 9807)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc.
09/04/2013(Xem: 11039)
Hòa thượng Khánh Hòa thế danh Lê Khánh Hòa, Pháp danh Như Trí, pháp hiệu Khánh Hòa, sinh năm Mậu Thân (1877) tại làng Phú Lễ, tổng Bảo Trị, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
09/04/2013(Xem: 9479)
Hòa thượng Thích Hưng Từ, thế danh Bùi Vạn Anh, sinh ngày mùng 1 tháng 8 năm Tân Hợi ( 1911 ) tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ngài sinh trong một gia đình có truyền thống đạo Phật. Thân phụ là cụ Bùi Thế Vĩ, pháp danh Như chơn, thân mẫu là cụ bà Võ Thị Biểu, pháp danh là Thị Bửu. Từ nhỏ Ngài được song thân giáo dục trong tinh thần từ bi và chan chứa đức hỷ xả của Phật, nên Ngài sớm mộ cửa Thiền.
09/04/2013(Xem: 9311)
Hòa thượng Huệ Quang, thế danh Nguyễn Văn Ân sing năm 1888 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, sau theo mẹ về Trà Vinh. Năm 1902,Ngài xin xuất gia vào chùa Long Thành ở Trà Cú được Hòa thượng Thiện Trí mến thương đặt danh pháp là Thiện Hải. Ngoài giờ học Phật pháp, Ngài lại được Hòa thượng cho học thêm y học.
09/04/2013(Xem: 9064)
Hòa thượng Thích Phúc Hộ, thế danh là Huỳnh Văn Nghĩa, sinh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái năm thứ 16 tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Song thân của Ngài là cụ ông Huỳnh Trung và cụ bà Trần Thị Nho.