Sáng mãi hạnh Thầy

12/06/201805:25(Xem: 7356)
Sáng mãi hạnh Thầy


ht thich trung hau 2

Sáng mãi hạnh Thầy 
( tưởng nhớ cố Hoà thượng Thích Trung Hậu)

 

Cơn gió hạ, chợt về sớm... Vạn Hạnh thoáng buồn, bậc cầu thang vắng dáng Thầy. 

  Sáng nào cũng vậy, Thầy thức sớm, sau những thời kinh sáng. Chúng con vừa thay y áo là đã nhìn rõ bóng Thầy có mặt ở dưới gốc mận. Thầy cặn kẽ hỏi han từng chú, hôm nay làm gì? 

Sau đó, Thầy đi dùng trà! 

“ Mở cửa chép một tờ kinh

Lên xe về Huế tìm kinh cho Thầy 

Ân sư Thuận hoá cố đô

Vào ra tự tại chứng thiền Vô sanh”

   Căn phòng của thầy toàn là sách, cả một bàn sách, giá sách, giường sách và đường sách. Thường thường ngoài sách ra Thầy chỉ dành trọng căn phòng để tiếp ngự các bậc cao học, bậc đèn sách và những bằng hữu đạo vị. 

 Căn phòng “ trượng thất Duy ma tuy bé nhỏ, muôn toà sư tử vẫn đi vào”. Thầy Hải Ấn, giáo sư Cao Huy Thuần, thầy  Quang Nhuận, bác Võ Đình Cường và trước đây Thầy cũng hầu Ngài Thiện Siêu. Trước đây cứ nghĩ Thầy xa lạ, Thầy không có thời gian để gần chúng lắm. Nhưng tới một hồi rồi, ai cũng cảm nhận “ Thầy dành đời mình cho sách và cho Đức Bổn sư Trí Quang” .  Nên Thầy rất ít có thì giờ riêng để tự chăm sóc cho mình. Những ngày tháng Bổn sư đang còn ngự viên ở Già Lam, Thầy còn rất kỳ công để lo đi lại “hầu sách” cho Đức Bổn sư. 

 Thầy đi bằng chiếc xe gắn máy 86, nhìn sáng sáng, chiều chiều từ Vạn Hạnh ; Thầy lại sang tu viện Quảng Hương Già Lam. Có lần con được đưa Thầy đi vì hôm đó, Thầy ngồi phía sau để ôm sách bản thảo về, mai lại đón Thầy tới nhà in tổng hợp T.p Hồ Chí Minh. 

   Có thể nói cả lòng Thầy là cả lòng sách, đến ba miền Phật giáo, Thầy cũng gói sách mang theo. Con xin mạn phép nói với “ thường những ai sống vì kinh sách thường độc hạnh duy ý- nẻo về của ý” để mở mang nước Phật và để trí tuệ nhà Phật chỉ một đại tạng. Chính vì thế, con đã hằng mong mỏi từ xa học tập theo dấu Bút của Thầy. 

ht thich trung hauht thich trung hau 3


Con cũng hiểu ra, vì sao cuộc đời Thầy lại cưu mang bộ Phật giáo ( Tăng già, cư sỹ ) Thuận hoá toàn tập của Thầy. 

Thầy luôn luôn có ý đạo, nối tiếp tiền bối, giữ gìn đạo mạch. Không gì hơn đó là ghi dấu lịch sử để làm tròn nguồn sống từ đời này qua đời khác, đến mọi thế hệ con người. Biết được  con đường chính đi tới sẽ thấy ánh sáng của đạo như nhiên. 

  Thời con còn làm tăng trú ở thiền viện Vạn Hạnh là  lúc Thầy mới nhờ con “ bâng cơm hầu Thầy” . Ngoài ra Thầy sợ tổn hạnh, phiền đạo nên Thầy hiện ra sự giản dị, hoà đồng. Chưa bao giờ con thấy Thầy thể hiện lớn- nhỏ trong từng mỗi cử chỉ, mỗi thời bố tát khoan thai, đọc giới mà Thầy sợ đọc to. Khi về liêu phòng Thầy nói nhỏ với con “ đọc nhỏ để mình còn nhớ giới cho mình”. 

   Sau bao năm đi qua, bao người đến đi rồi vắng ... 

sau bao cuộc thăng rồi đến trầm cho đến trở lại...

Nhưng đôi dép thái con mua về dâng Thầy mang, sau mười năm con cũng còn thấy đó. Thấy đó để chứng nghiệm , minh chứng cho lòng của Thầy “ không bỏ” hạnh của Thầy chưa quên. Lần cuối cùng gặp Thầy ở nhà tang lễ cố Hoà thượng Đức Chơn. Thầy thấy con, Thầy kêu lại ngồi xuống và ngồi đó với Thầy. Thầy nói “ Thầy vừa Huế vô đây! 

Sài gòn 12/06/2018

Kính hầu Thầy 

Thích Pháp Bảo 





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 9086)
Hòa thượng họ Võ, húy Trọng Tường, Pháp danh Tâm Phật, tư Tri Đức, hiệu Thiện Siêu, Hòa thượng sinh ngày 15 tháng 7 năm Tân Dậu (1921) trong môt gia đình thâm Nho tín Phật ở làng Thần Phù, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, thành phố Huế. Thân Phụ là C ông Võ Trọng Giáng, thân mẫu là Cụ bà Dương Thị Viết. Hòa thượng là con trưởng trong một gia đình có 6 anh em: 3 trai, 3 gái. Người em kế cũng xuất gia, đó là cố Thượng tọa Thích Thiện Giải, nguyên là Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất tỉnh Lâm Đồng; Trú trì chùa Phước Huệ - Bảo Lộc.
09/04/2013(Xem: 10811)
Thầy xuất thân trong một gia đình kính tín Tam bảo. Thầy là con út trong gia đình gồm 6 anh chị em. Cha là cụ Ông Lâm Sanh Thảo, một nhà trí thức yêu nước; Mẹ là cụ Bà Trần Thị Năm, một phật tử thuần túy và cũng là một người Mẹ mẫu mực đảm đang.
09/04/2013(Xem: 14269)
Thượng tọa Thích Chơn Thanh, thế danh Phan Văn Bé, sinh ngày 13 tháng 3 năm 1949 tại xã Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, tỉnh Kiến Phong, nay là tỉnh Đồng Tháp. Thân phụ là Cụ ông Phan Văn Vinh, thân mẫu là Bà Nguyễn Thị Mến. Thượng tọa có 06 anh em, 2 trai 4 gái, Ngài là anh cả trong gia đình.
09/04/2013(Xem: 25990)
Cuộc đời tu tập và hành đạo của Thầy Minh Phát là bức tranh minh họa hiện thực sinh động lời dạy của Ðức Phật: “Này chư Tỳ kheo! Hãy du hành vì an lạc, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư Thiên và loài người”.
09/04/2013(Xem: 15594)
Thuở nhỏ lòng ưa cửa Ðạo, mến chuộng nếp áo phước điền, ngưỡng trông tịnh xá Kỳ Viên, tha thiết lòng cầu xuất tục. 16 tuổi, xuất gia học đạo chùa Tây An, Châu Ðốc trước tiên, gần quý Thầy hiền, trau dồi Phật tuệ, bang sài vận thủy, tu sửa đạo tràng; 27 tuổi, cầu thọ tam đàn. Kể từ đó tinh chuyên tu niệm.
09/04/2013(Xem: 9948)
Đại lão hòa thượng Thích Trí Nhãn thế danh là Đoàn Thảo, pháp danh Như Truyện, tự Giải Lệ, hiệu Thích Trí Nhãn. Ngài sinh ngày 10 tháng giêng năm Kỷ Dậu tức vào năm 1909 dương lịch, tại xứ Đồng Nà, tổng Phú Triêm Hạ, Xã Thanh Hà, nay thuộc thôn Đồng Nà, xã Cẩm Hà, Thị Xã Hội An.
09/04/2013(Xem: 18025)
Xuất thân trong một gia đình gia giáo có thân phụ là Chánh Tổng nên Hòa Thượng đã sớm hấp thụ Nho học và Tây học từ thuở ấu niên. Vì thế, Hòa Thượng đã thông thạo cả Hán văn lẫn Pháp văn, kết hợp và dung hòa được cả hai truyền thống văn hóa Đông – Tây.
09/04/2013(Xem: 15856)
Hòa Thượng thượng Tâm hạ Thành. Thế danh là Nguyễn Ðức Huân sinh năm 1930 tại làng Trà Bắc, Phủ Xuân Trường, Tỉnh Nam Ðịnh, Miền Bắc Việt Nam. Năm 1942 khi vừa tròn 12 tuổi, Ngài ngộ lý vô thường và xuất gia học đạo với Sư Tổ Thượng Chính Hạ Ðĩnh tại chùa Yên Cư, Phủ Xuân Trường, Thuc Sơn Môn Trà Bắc. (Sơn môn Trà Bắc, Trà Trung và Trà Ðông thuc Tổng Trà Lũ, là hậu thân của Sơn môn Yên Tử). Ngài được Bổn Sư ban Pháp danh là Ngọc Tiểu Pháp hiệu Tâm Thành.
09/04/2013(Xem: 13434)
Mỗi lần đi Huế lòng tôi lại nao nao khôn tả. Huế là đạo, là thơ, là nghĩa tình ý vị, là tinh hoa văn hóa của ba miền đất Việt, nhưng cũng là mảnh đất khô cằn của đói nghèo khốn khổ “mùa đông thiếu áo mùa hè thiếu cơm” đã hứng chịu nhiều thiên tai nhân họa. Huế được phong phú về mặt văn hóa, tâm linh là nhờ hình ảnh những vị đại lão hòa thượng nơi đây đã sống, hành đạo và xả báo thân. Dù đã viên tịch, dư hương các ngài vẫn như còn phảng phất nơi các ngôi tổ đình tĩnh lặng và những rừng thông bạt ngàn.
09/04/2013(Xem: 8859)
Giờ phút Thầy an nhiên xả báo thân, thì bên này hơn nữa đêm. Một Phật tử của Thầy ở miền Đông nước Mỹ, giọng đầm đìa nước mắt, khấp báo cho tôi tin Thầy đã từ biệt, lệ tiếc thương như tràn ngập, khắp đó khấp đây. Rồi Tuệ Sỹ, một hậu tấn, kẻ đồng tâm dễ thương của Thầy, mà tôi thường ví như một hạt kim cương hiếm hoi lẫn trong đá sỏi của Phật Giáo Việt Nam ngày nay, trong nổi cô quạnh bao la vừa sau một mất mát lớn lao đã ai tín cho tôi bằng lá thư không niêm mà tôi biết mỗi chữ cũng trĩu nặng nổi lòng.