Sáng mãi hạnh Thầy

12/06/201805:25(Xem: 6826)
Sáng mãi hạnh Thầy


ht thich trung hau 2

Sáng mãi hạnh Thầy 
( tưởng nhớ cố Hoà thượng Thích Trung Hậu)

 

Cơn gió hạ, chợt về sớm... Vạn Hạnh thoáng buồn, bậc cầu thang vắng dáng Thầy. 

  Sáng nào cũng vậy, Thầy thức sớm, sau những thời kinh sáng. Chúng con vừa thay y áo là đã nhìn rõ bóng Thầy có mặt ở dưới gốc mận. Thầy cặn kẽ hỏi han từng chú, hôm nay làm gì? 

Sau đó, Thầy đi dùng trà! 

“ Mở cửa chép một tờ kinh

Lên xe về Huế tìm kinh cho Thầy 

Ân sư Thuận hoá cố đô

Vào ra tự tại chứng thiền Vô sanh”

   Căn phòng của thầy toàn là sách, cả một bàn sách, giá sách, giường sách và đường sách. Thường thường ngoài sách ra Thầy chỉ dành trọng căn phòng để tiếp ngự các bậc cao học, bậc đèn sách và những bằng hữu đạo vị. 

 Căn phòng “ trượng thất Duy ma tuy bé nhỏ, muôn toà sư tử vẫn đi vào”. Thầy Hải Ấn, giáo sư Cao Huy Thuần, thầy  Quang Nhuận, bác Võ Đình Cường và trước đây Thầy cũng hầu Ngài Thiện Siêu. Trước đây cứ nghĩ Thầy xa lạ, Thầy không có thời gian để gần chúng lắm. Nhưng tới một hồi rồi, ai cũng cảm nhận “ Thầy dành đời mình cho sách và cho Đức Bổn sư Trí Quang” .  Nên Thầy rất ít có thì giờ riêng để tự chăm sóc cho mình. Những ngày tháng Bổn sư đang còn ngự viên ở Già Lam, Thầy còn rất kỳ công để lo đi lại “hầu sách” cho Đức Bổn sư. 

 Thầy đi bằng chiếc xe gắn máy 86, nhìn sáng sáng, chiều chiều từ Vạn Hạnh ; Thầy lại sang tu viện Quảng Hương Già Lam. Có lần con được đưa Thầy đi vì hôm đó, Thầy ngồi phía sau để ôm sách bản thảo về, mai lại đón Thầy tới nhà in tổng hợp T.p Hồ Chí Minh. 

   Có thể nói cả lòng Thầy là cả lòng sách, đến ba miền Phật giáo, Thầy cũng gói sách mang theo. Con xin mạn phép nói với “ thường những ai sống vì kinh sách thường độc hạnh duy ý- nẻo về của ý” để mở mang nước Phật và để trí tuệ nhà Phật chỉ một đại tạng. Chính vì thế, con đã hằng mong mỏi từ xa học tập theo dấu Bút của Thầy. 

ht thich trung hauht thich trung hau 3


Con cũng hiểu ra, vì sao cuộc đời Thầy lại cưu mang bộ Phật giáo ( Tăng già, cư sỹ ) Thuận hoá toàn tập của Thầy. 

Thầy luôn luôn có ý đạo, nối tiếp tiền bối, giữ gìn đạo mạch. Không gì hơn đó là ghi dấu lịch sử để làm tròn nguồn sống từ đời này qua đời khác, đến mọi thế hệ con người. Biết được  con đường chính đi tới sẽ thấy ánh sáng của đạo như nhiên. 

  Thời con còn làm tăng trú ở thiền viện Vạn Hạnh là  lúc Thầy mới nhờ con “ bâng cơm hầu Thầy” . Ngoài ra Thầy sợ tổn hạnh, phiền đạo nên Thầy hiện ra sự giản dị, hoà đồng. Chưa bao giờ con thấy Thầy thể hiện lớn- nhỏ trong từng mỗi cử chỉ, mỗi thời bố tát khoan thai, đọc giới mà Thầy sợ đọc to. Khi về liêu phòng Thầy nói nhỏ với con “ đọc nhỏ để mình còn nhớ giới cho mình”. 

   Sau bao năm đi qua, bao người đến đi rồi vắng ... 

sau bao cuộc thăng rồi đến trầm cho đến trở lại...

Nhưng đôi dép thái con mua về dâng Thầy mang, sau mười năm con cũng còn thấy đó. Thấy đó để chứng nghiệm , minh chứng cho lòng của Thầy “ không bỏ” hạnh của Thầy chưa quên. Lần cuối cùng gặp Thầy ở nhà tang lễ cố Hoà thượng Đức Chơn. Thầy thấy con, Thầy kêu lại ngồi xuống và ngồi đó với Thầy. Thầy nói “ Thầy vừa Huế vô đây! 

Sài gòn 12/06/2018

Kính hầu Thầy 

Thích Pháp Bảo 





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 12043)
Căn cứ theo tài liệu nghiên cứu của Thiền sư Mật Thể trong cuốn Việt Nam Phật Giáo Sử Lược, thì dưới triều chúa Nguyễn ở đàng Trong, phong trào phát triển Phật giáo nói chung và Thiền phái Lâm Tế nói riêng bành trướng rất mạnh mẽ ; đồng thời, đã lưu lại cho nền văn học Phật giáo nhiều kiến trúc mỹ thuật, hội họa rất nổi tiếng. Tuy nhiên, khi nhà Tây Sơn thống nhất đất nước, kéo quân từ Nam ra diệt Nguyễn thì đoàn quân lính nầy đã hủy diệt đi những công trình quý báu đó. Bi ký, chứng liệu bị thất tung.
10/04/2013(Xem: 9540)
Hôm nay dưới bóng mát thiền lâm Thiên Thai pháp phái, trước giây phút thiêng liêng tỏa ngát hương đàm, chúng con đang qui tụ về đây, nơi vùng đất Thánh, nơi đã ghi đậm nét lịch sử một đời người xuất thị nhập sơn, tầm rong độ nhật, nơi Ngài đã thể hiện công án thoại đàu, luôn luôn quấn quýt đeo đẳng tâm tư với những tháng năm dài chẻ chia suy cứu- Thiền pháp trầm tịch nhưng hưng suy, trừng thanh nhưng hoạt diễm ấy đến nay vẫn còn phong khí nức hương
10/04/2013(Xem: 11817)
Nhận được tin từ cố đô Huế, Việt Nam, Trưởng Lão Ni, Sư Cụ Thích Nữ Diệu Trí, thế danh Hồ thị Trâm Anh, Húy thượng Trừng hạ Khương, Đạo hiệu Liễu Nhiên, đời thứ 42 dòng Thiền Lâm Tế, Viện chủ chùa Diệu Đức, Trú Trì chùa Diệu Nghiêm, thành phố Huế, đã xã báo thân, an nhiên thâu thần thị tịch vào lúc 19 giờ 05 phút ngày 23 tháng 3 năm 2010 (nhằm ngày mùng 8 tháng 2 năm Canh Dần), trụ thế 103 năm, với 78 tuổi đạo.
10/04/2013(Xem: 10934)
Truyện của tôi không đáng gì mà phải ghi. Chỉ vì truyện ấy, hơn vài thập kỷ trước thập kỷ 2530 (1975-1985), có liên quan đến Phật giáo VN, lại bị hư cấu truyện và phim sai quá nên phải ghi. Nhưng ghi như dưới đây thì chỉ là có còn hơn không mà thôi.
10/04/2013(Xem: 9803)
Lễ Giỗ Tổ Nguyên Thiều tại Tu Viện Nguyên Thiều, Sydney, Úc Châu ngày thứ hai, 26-11-2007
10/04/2013(Xem: 11790)
Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, thế danh Nguyễn Văn Bình, sinh ngày 02 tháng 09 năm Đinh Tỵ (17-l0-1917), tại làng Mỹ An Hưng ( Cái Tàu Thượng) huyện Châu Thành, tỉnh Sa Đéc (Đồng Tháp). Thân phụ là ông Nguyễn văn Cân và thân mẫu là Cụ bà Nguyễn Thị Truyện. Cụ Ông qua đời lúc H.T lên ba, Cụ Bà cũng theo Ông lúc Ngài vừa lên bảy.
09/04/2013(Xem: 10491)
Nước ta từ sau ngày Doãn Quốc Công Nguyễn Hoàng (1558 - 1613) vào trấn thủ đất Thuận Quảng, dần dần biến thành một vùng cai trị riêng cắt đứt liên hệ với vua Lê ở miền Bắc, lấy sông Danh làm ranh giới chia cắt Việt Nam thành hai mà sử gọi là Đàng Trong và Đàng Ngoài.
09/04/2013(Xem: 14402)
Hòa Thượng Pháp danh thượng Tâm hạ Ba, tự Nhựt Quang, hiệu Bửu Huệ thuộc đời 41 dòng Lâm Tế (chữ Nhựt) và đời 43 thuộc phái Thiên Thai (chữ Tâm). Húy danh: Nguyễn Văn Ba, sanh năm Giáp Dần (1941), tại Xã Tân Hương, huyện Bến Tranh, Tỉnh Ðịnh Tường (Nay là Tỉnh Tiền Giang). Thân phụ là Ông Ðặng Văn Cử, thân mẫu là Bà Nguyễn Thị Thu. Hòa Thượng theo họ mẹ, cũng là người con thứ ba trong gia đình gồm hai anh em.
09/04/2013(Xem: 10350)
Ôn Từ Đàm (Hòa thuọng Thích Thiện Siêu) với tôi vốn không có duyên nghĩa thầy trò; mặc dù, vào đầu thập niên 1960, Ôn là Giáo thọ tại Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang trong khi tôi là một học tăng ở đó. Những tháng năm này, tôi là nguòi được theo học trường Võ Tánh nên thời khóa sinh hoạt của tôi không bị câu thúc chặt chẽ; và vì vậy, ít có cơ hội gần gũi với các bậc thầy lớn như Ôn.
09/04/2013(Xem: 8737)
Trúc Lâm Đại sĩ là vua thứ tư nhà Trần, con của Thánh Tông, lên ngôi ngày 12 tháng 2 năm Mậu dần (1278). Trước khi Đại sĩ ra đời, Nguyên Thánh Hoàng Thái hậu nằm mộng thấy thần nhân đưa cho hai lưỡi kiếm bảo : "Có lệnh của Thượng giới, cho phép ngươi được chọn lấy". Bỗng nhiên được kiếm, Thái hậu bất giác rất vui, nhân đó có thai. Những tháng dưỡng thai, nhà bếp dâng thức gì Thái hậu cứ dùng như thường, chẳng cần kiêng cử mà thai cũng chẳng sao.