Sáng mãi hạnh Thầy

12/06/201805:25(Xem: 6973)
Sáng mãi hạnh Thầy


ht thich trung hau 2

Sáng mãi hạnh Thầy 
( tưởng nhớ cố Hoà thượng Thích Trung Hậu)

 

Cơn gió hạ, chợt về sớm... Vạn Hạnh thoáng buồn, bậc cầu thang vắng dáng Thầy. 

  Sáng nào cũng vậy, Thầy thức sớm, sau những thời kinh sáng. Chúng con vừa thay y áo là đã nhìn rõ bóng Thầy có mặt ở dưới gốc mận. Thầy cặn kẽ hỏi han từng chú, hôm nay làm gì? 

Sau đó, Thầy đi dùng trà! 

“ Mở cửa chép một tờ kinh

Lên xe về Huế tìm kinh cho Thầy 

Ân sư Thuận hoá cố đô

Vào ra tự tại chứng thiền Vô sanh”

   Căn phòng của thầy toàn là sách, cả một bàn sách, giá sách, giường sách và đường sách. Thường thường ngoài sách ra Thầy chỉ dành trọng căn phòng để tiếp ngự các bậc cao học, bậc đèn sách và những bằng hữu đạo vị. 

 Căn phòng “ trượng thất Duy ma tuy bé nhỏ, muôn toà sư tử vẫn đi vào”. Thầy Hải Ấn, giáo sư Cao Huy Thuần, thầy  Quang Nhuận, bác Võ Đình Cường và trước đây Thầy cũng hầu Ngài Thiện Siêu. Trước đây cứ nghĩ Thầy xa lạ, Thầy không có thời gian để gần chúng lắm. Nhưng tới một hồi rồi, ai cũng cảm nhận “ Thầy dành đời mình cho sách và cho Đức Bổn sư Trí Quang” .  Nên Thầy rất ít có thì giờ riêng để tự chăm sóc cho mình. Những ngày tháng Bổn sư đang còn ngự viên ở Già Lam, Thầy còn rất kỳ công để lo đi lại “hầu sách” cho Đức Bổn sư. 

 Thầy đi bằng chiếc xe gắn máy 86, nhìn sáng sáng, chiều chiều từ Vạn Hạnh ; Thầy lại sang tu viện Quảng Hương Già Lam. Có lần con được đưa Thầy đi vì hôm đó, Thầy ngồi phía sau để ôm sách bản thảo về, mai lại đón Thầy tới nhà in tổng hợp T.p Hồ Chí Minh. 

   Có thể nói cả lòng Thầy là cả lòng sách, đến ba miền Phật giáo, Thầy cũng gói sách mang theo. Con xin mạn phép nói với “ thường những ai sống vì kinh sách thường độc hạnh duy ý- nẻo về của ý” để mở mang nước Phật và để trí tuệ nhà Phật chỉ một đại tạng. Chính vì thế, con đã hằng mong mỏi từ xa học tập theo dấu Bút của Thầy. 

ht thich trung hauht thich trung hau 3


Con cũng hiểu ra, vì sao cuộc đời Thầy lại cưu mang bộ Phật giáo ( Tăng già, cư sỹ ) Thuận hoá toàn tập của Thầy. 

Thầy luôn luôn có ý đạo, nối tiếp tiền bối, giữ gìn đạo mạch. Không gì hơn đó là ghi dấu lịch sử để làm tròn nguồn sống từ đời này qua đời khác, đến mọi thế hệ con người. Biết được  con đường chính đi tới sẽ thấy ánh sáng của đạo như nhiên. 

  Thời con còn làm tăng trú ở thiền viện Vạn Hạnh là  lúc Thầy mới nhờ con “ bâng cơm hầu Thầy” . Ngoài ra Thầy sợ tổn hạnh, phiền đạo nên Thầy hiện ra sự giản dị, hoà đồng. Chưa bao giờ con thấy Thầy thể hiện lớn- nhỏ trong từng mỗi cử chỉ, mỗi thời bố tát khoan thai, đọc giới mà Thầy sợ đọc to. Khi về liêu phòng Thầy nói nhỏ với con “ đọc nhỏ để mình còn nhớ giới cho mình”. 

   Sau bao năm đi qua, bao người đến đi rồi vắng ... 

sau bao cuộc thăng rồi đến trầm cho đến trở lại...

Nhưng đôi dép thái con mua về dâng Thầy mang, sau mười năm con cũng còn thấy đó. Thấy đó để chứng nghiệm , minh chứng cho lòng của Thầy “ không bỏ” hạnh của Thầy chưa quên. Lần cuối cùng gặp Thầy ở nhà tang lễ cố Hoà thượng Đức Chơn. Thầy thấy con, Thầy kêu lại ngồi xuống và ngồi đó với Thầy. Thầy nói “ Thầy vừa Huế vô đây! 

Sài gòn 12/06/2018

Kính hầu Thầy 

Thích Pháp Bảo 





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10936)
Đọc qua các Thiền sư Việt Nam từ xưa đến nay, chưa thấy một người nào đã chinh phục được các hàng vương tôn, quý tộc, khiến cho họ tín nhiệm, quy y và ủng hộ hết mình như Thiền sư Pháp Loa. Sư là một con người tích cực hoạt động, suốt đời tận tụy phục vụ đạo pháp cho đến hơi thở cuối cùng. Điều đặc biệt quan tâm của Sư là ấn hành Đại Tạng kinh, do đó đã đề xuất, tiến hành và in xong bộ Đại Tạng kinh Việt Nam. Ngoài ra, Sư đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thống nhất Phật giáo, thiết lập một Giáo hội Phật giáo thống nhất đầu tiên của Việt Nam, và Sư là người thứ nhất đúng ra thiết lập sổ bộ Tăng, Ni và tự viện trên khắp cả nước.
09/04/2013(Xem: 9500)
Sư người làng Vạn Tải, lộ Bắc Giang. Thỉ Tổ của Sư là Lý Ôn Hòa, làm quan Hành khiển dưới triều Lý Thần Tông (1128 - 1138). Trải nhiều đời, đến Tổ phụ là Tuệ Tổ, có công đánh giặc Chiêm Thành, nhưng không không chịu ra làm quan, chỉ thích những chuyện hay, sách lạ, và vui thú ruộng vườn. Mẹ Sư là Lê Thị, vốn người hiền đức, bản tính nhân từ, năm 30 tuổi vẫn chưa có con trai. Nhân gặp lúc có bệnh dịch hoành hành, bà đi hái thuốc trên núi Chu Sơn, dừng chân tạm nghỉ tại một ngôi chùa tên Ma Cô Tiên.
09/04/2013(Xem: 8702)
Truyền thống Phật giáo Việt Nam từ truớc đến nay vốn thiên về Phật giáo Phát triển hay Đại thừa; mãi đến năm 1959 lần đầu tiên bộ kinh Trường A Hàm do Hòa thượng Thích Thiện Siêu phiên dịch được xuất bản thì Phật giáo Nguyên thủy mới được các Phật tử chú ý đến. Mặc dù bộ kinh này nằm trong Hán tạng thuộc hệ thống Phật giáo Phát triển, nhưng tinh thần của nó thì tương quan mật thiết với 5 bộ Nikàya trong giáo lý Nguyên thủy.
09/04/2013(Xem: 8450)
Phương Tây có câu tục ngữ "Hoạn nạn làm lớn con người". Phương Đông cũng có câu danh ngôn tương tự "Ngậm cay đắng trong cay đắng mới làm con người trên loài Người". Trường hợp của Trần Thái Tông sao mà ứng với hai câu này đến thế?
09/04/2013(Xem: 8859)
Hòa thượng Thích Thiện Châu Nguyên Đạo (Đọc tại buổi lễ tưởng niệm và lễ Trà Tỳ Hòa thượng Thích Thiện Châu) Hòa thượng họ Hồ Đắc, tên Cư, Pháp danh Tâm Thật, Pháp hiệu Thiện Châu, sinh ngày 23 tháng 2 năm 1931 tức ngày 7 tháng 1 năm Tân Mùi tại làng An Truyền, huyện Phú Vang, Tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ Thầy là Cụ Hồ Đắc Phách, thân mẫu là Cụ Nguyễn Thị Cần.
09/04/2013(Xem: 35922)
Hòa thượng pháp danh Thiền Tâm, pháp hiệu Liên Du, tự Vô Nhất thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 43, thế danh Nguyễn Nhựt Thăng, sinh năm 1925 (Ất Sửu) tại xã Bình Xuân, Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Song thân là cụ Nguyễn Văn Hương và cụ Trần Thị Dung pháp danh Giác Ân. Ngài là người thứ 10 trong số 13 anh em, 4 trai, 9 gái.
09/04/2013(Xem: 10350)
Hòa Thượng Thích Thanh Kiểm, thế danh Vũ Văn Khang, sinh ngày 23/12/1921 (Tân Dậu), tại làng Tiêu Bảng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Thân phụ là Cụ Ông Vũ Đức Khanh, thân mẫu là Cụ Bà Đỗ Thị Thinh. Hoà thượng có 5 anh chị em, 3 trai 2 gái. Ngài là con thứ 4 trong gia đình.
09/04/2013(Xem: 8383)
Lý Càn Đức (Bính Ngọ 1066 - Mậu Thân 1128) là vua thứ 4 nhà Lý, con trai duy nhất của vua Lý Thánh Tông và Ỷ Lan phu nhân tức Linh Nhân hoàng hậu. Càn Đức sinh ra ở Cung Động Tiên, gác Du Thiềm (gác thưởng Trăng) vào tháng Giêng năm Bính Ngọ, niên hiệu Chương Thánh năm thứ 8 (23-2-1066), hồi vua Thánh Tông đã ngoài 40 tuổi. Một ngày sau ngày sinh thì được lập làm Thái tử, 6 tuổi vua cha mất, được tôn làm vua, tức vua Lý Nhân Tông. Vua có tướng hảo, tâm hiền, bản chất thông minh dũng lược.
09/04/2013(Xem: 9241)
Mỗi khi tâm niệm đến hành trạng Thiền sư Vạn Hạnh, chúng ta không thể không đề cập đến con người và sự nghiệp Lý Công Uẩn. Giá trị lịch sử của một con người không chỉ ảnh hưởng đến tự thân mà dư âm giá trị lịch sử của con người đó còn ảnh hưởng trực tiếp đến muôn người khác từ thế hệ này qua thế hệ khác. Và quả thật, Vạn Hạnh Thiền sư là người có công rất lớn trong việc khai sáng ra triều đại nhà Lý thì Lý Công Uẩn là vị vua đầu tiên thực thi tinh thần Vạn Hạnh bằng tất cả sự thể nhập "Đạo Pháp - Dân tộc" trong một thực thể duy nhất.
09/04/2013(Xem: 16746)
Có lần trong tù, đói quá, Thầy Quảng Độ nằm mơ thấy được nhà bếp cho một cái bánh bao. Ăn xong thấy bụng căng thẳng, no nê, rất hạnh phúc. Sự thật là đêm ấy, trước khi đi ngủ, vì đói quá nên thấy uống nước cho đầy bụng dễ ngủ. Và Thầy đã đái dầm ra quần. Sáng hôm đó Thầy có làm một bài thơ.