Tản Mạn Tháng Hai

26/03/201821:08(Xem: 10234)
Tản Mạn Tháng Hai

TẢN MẠN THÁNG HAI

 

     Tháng hai, trời khô hanh và nắng, không còn những cơn gió nhẹ,  những sợi mưa phùn. Chỉ là, như một lẽ tất nhiên, Giêng qua thì Hai đến, chùng chình và lặng lẽ...

     Thuở ấy, những năm đầu của thập niên 80, ở Tòng Lâm cạnh ngôi thảo am mà tôi tá túc có một cái thất bé xíu lợp bằng lá dừa. Nghe nói trong đó có một sư cô tuổi còn rất trẻ đang tịnh tu, lạ là suốt hai năm trời ở ngay sát bên cạnh, tôi chưa từng nhìn thấy mặt thậm chí dáng người. Mỗi lần đi ngang qua ngôi thất lá ấy, bước chân tôi cũng khẽ khàng hơn, vì sợ động niệm người đang công phu tu tập. Tôi trân trọng cái sự “tuyệt dấu hành tàng” và từng tự nhủ, sau này mình cũng chọn cuộc sống như thế.

     Những mơ ước trẻ con thì ai mà chẳng có, nhưng làm được hay không thì lại là chuyện khác. Có điều sau này, trong những lần đứng trên bục giảng, khi thính chúng hoài nghi về sự cống hiến cho cộng đồng của những người nhập thất tịnh tu lâu năm, nghĩ tới hàng loạt những cuốn “Báo Ứng Hiện Đời” mà cô ấy biên soạn lợi lạc không thể nghĩ bàn, tôi đã có thể mạnh dạn mà hồi đáp họ.

Ni Su Nhu Thuy 3

     Cảm ơn thay người Thầy không biết mặt đã dạy tôi một điều: không phải cứ thăng tòa giảng Kinh mới gọi là Hoằng Pháp!

     Tôi 10 tuổi, ngồi đọc sách một mình bên hiên, thỉnh thoảng Sư đi ngang chỗ tôi để đến thăm người em ruột của mình (chính là sư cô trẻ nhập thất ở trên), đã ghé lại hỏi han đôi câu, xoa đầu rồi chỉ tôi dăm ba nét vẽ. Có lần còn vui vẻ tặng tôi cuốn Ba Trụ Thiền. Tôi đọc hết liền trong một ngày và đó chính là quyển sách Thiền đầu tiên mà tôi tiếp xúc. Mãi sau này, tôi vẫn hoài nghi không biết ngày đó Sư có nhầm lẫn hay không mà đưa cho một đứa bé con 10 tuổi cuốn Ba Trụ Thiền chứ không phải là quyển Truyện cổ tích nào khác.

     Cảm ơn người Thầy đầu tiên dạy cho tôi biết cách cúi đầu trân trọng trước tánh linh của muôn loài. Hôm qua, đi dự Lễ Tưởng Niệm Sư ở Viên Chiếu, tôi kính cẩn đê đầu cảm tạ và thầm gọi một tiếng Thầy.

     14 tuổi, tôi với cái chỏm dài vắt vẻo tuần 2 buổi lội bộ đến Liễu Đức để học chữ Nho với vị Thầy già vui tính, chính là thân phụ của hai sư cô trên. Đó là người Thầy dạy cho tôi những nét sổ, nét ngang đầu tiên của chữ Hán. Thầy cho bài tập và chấm rất kỹ. Tới giờ tôi cũng còn nhớ như in những nét chữ ngô nghê bằng bút lông to tướng trên quyển vở được đóng từ giấy thép vụn của mình có xen lẫn rất nhiều những nét khoanh tròn màu đỏ của Thầy. Thầy dạy viết chữ Hán là phải ngang ngay sổ thẳng, nét đá ra phải dứt khoát, lẹ làng, mà ‘bé con’ thì cả đời cứ dùng dằng, lưỡng lự nên đến tận giờ vẫn mải miết đa đoan...

Tang lễ Sư diễn ra ở Chùa Phổ Hiền (Worcester, Massachusetts) nơi mà vị trụ trì thật ra chẳng có chút liên hệ gì về tông môn, hay họ hàng. Vậy mà, từ những đoạn youtube xem được, nhìn những lo lắng ân cần, tận tụy của Thầy trò Ni sư đối với vị khách Ni giáo thọ trong những giờ phút cuối, tận cho đến lúc di quan. Tôi cảm động và ngưỡng mộ quá chừng quá đỗi. Tình thương “vô duyên từ” và lòng vị tha vô ngã của Bồ tát là đây chứ còn đâu nữa. Tôi cúi đầu niệm ân một vị Thầy chưa biết mặt đã dạy tôi bài học sống động của tình người...

Tháng hai vừa đến đã mang theo những nốt trầm day dứt, nhưng cũng từ đó đã vẽ nên những gam màu khác biệt của cuộc sống...

Tạ ơn cuộc đời, tạ ơn những niềm riêng vẫn còn bỏ ngỏ, để ta biết trân quý hơn từng phút giây hiện hữu và từng cơn gió nhẹ đi qua. Để ta biết một điều, có những con sông đâu hề muốn gắn đời mình với lịch sử, chiến công. Là người ta tự đóng cọc, vinh danh làm choáng chật dòng chảy tự nhiên của nó. Họ đâu biết rằng những con sông muôn đời chỉ muốn làm sông, bình yên trôi lặng lẽ....

Đại Tòng Lâm, 22:00, 8.2.Mậu Tuất

Sakya Như Bảo

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/06/2011(Xem: 12542)
Trong sáu thập niên qua, TIME đã không ngừng ghi chép lại những vinh quang cùng khổ nhọc của Á châu. Trong số đặc biệt kỷ niệm thường niên hôm nay, chúng tôi muốn bày tỏ lòng kính trọng của mình đến những nhân vật nổi bật đã góp phần vào việc hình thành nên thời đại chúng ta. Những thập niên xáo động nhất của một lục địa đông dân nhất trên trái đất này đã sản sinh ra hàng loạt những nhân vật kiệt xuất. Trong sáu mươi năm qua, kể từ khi TIME bắt đầu cho xuất bản ấn bản Á Châu, chúng tôi đã có cái đặc ân là được gặp gỡ đa số những nhân vật ngoại hạng này –theo dấu cuộc vận động hay trên chiến trường, trong phòng hội hay trong phòng thí nghiệm, tại cơ sở sản xuất hay tại phim trường.
16/06/2011(Xem: 7869)
Tôi có duyên lành gặp được ngài một lần khi ngài đến thăm Hòa thượng chùa Đông Hưng, bổn sư của tôi, cũng là y chỉ sư của Hòa thượng Quảng Thạc, một để tử xuất gia của ngài khi còn ở đất Bắc. Cung cách khiêm cung, ngài cùng Hòa thượng tôi đàm đạo về quá trình tu tập cũng như Phật học, hai ngài đã rất tâm đắc về chí nguyện giải thoát và cùng nhau kết luận một câu nói để đời : “Mục đích tu hành không phải để làm chính trị”. Cũng câu nói này, khi chia tay chư tăng miền Nam, ngài đã phát biểu với hàng pháp lữ Tăng ni đưa tiễn. Khi sưu tập tư liệu về cuộc đời của ngài, tôi may mắn gặp được các bậc tri thức cao đồ của ngài kể lại. Nay, nhân có cuộc hội thảo về phong trào chấn hưng Phật giáo miền Bắc và công hạnh của ngài, tôi xin được góp thêm đôi điều.
14/06/2011(Xem: 9157)
Thiền sư PHÁP THUẬN (Bính Tý 918): Thiền sư đời Tiền Lê, thuộc dòng thiền Tỳ-Ni-Đa-Lưu Chi, không rõ gốc gác quê quán và tên thật, chỉ biết rằng Sư họ Đỗ, xuất gia từ thuở nhỏ ở chùa Cổ Sơn (Thanh Hóa), sau theo học đạo Thiền sư Phù Trì ở chùa Long Thọ, nổi tiếng là uyên thâm đức độ. Tương truyền rằng chính Sư đã dùng nghệ thuật phù sấm, làm cố vấn giúp vua Lê Đại Hành nắm quyền bính, dẹp yên được hỗn loạn trong triều cuối đời nhà Đinh, được vua Lê vô cùng trọng vọng. Năm 990 niên hiệu Hưng Thống thứ 2, Sư không bệnh mà viên tịch, thọ 76 tuổi, để lại cho đời các tác phẩm: “Bồ Tát sám hối văn”, “Thơ tiếp Lý Giác”, và một bài kệ.
14/06/2011(Xem: 9191)
• Thiền sư Chân Không(Bính Tuất -1046): Sư họVương, thế danh Hải Thiềm, quê quán ở làng Phù Đổng (nay là Tiên Sơn-Bắc Ninh), xuất thân trong một gia đình quý tộc. Lúc thân mẫu của ông mang thai, cha ông nằm mộng thấy một vị tăng Ấn Độ trao cho cây tích trượng, sau đó thì ông ra đời. Mồ côi cha mẹ từ thuở niên thiếu, ông siêng chăm đọc sách không màng đến những chuyện vui chơi. Năm 20 tuổi ông xuất gia, rồi đi ngao du khắp nơi để tìm nơi tu học Phật Pháp. Nhân duyên đưa đẩy cho Sư đến chùa Tĩnh Lự ở núi Đông Cứu (Gia Lương-Hà Bắc), nghe Thiền sư Thảo Nhất giảng kinh Pháp Hoa mà ngộ đạo, được nhận làm đệ tử, sớm tối tham cứu thiền học, và được sư thầy truyền tâm ấn, thuộc dòng thiền Tì-ni-đa Lưu -chi, thế hệ thứ 16. Sau, Sư lên núi Phả Lại, trại Phù Lan (nay thuộc huyện Mỹ Văn-Hưng Yên) làm trụ trì chùa Chúc Thánh, ở suốt 20 năm không xuống núi để chuyên trì giới luật, tiếng thơm đồn xa đến cả tai vua.
13/06/2011(Xem: 18480)
Ôi, trong giáo pháp Phật đà của ta, việc trọng đại nhất là gì ? Con người sinh ra không từ cửa tử mà đến, chết không vào cửa tử mà đi. Thế nên người nằm non ở tổ, bỏ ngủ quên ăn, chẳng tiếc thân mạng, đều vì việc lớn sinh tử. Ở thời giáo suy pháp mạt này mà có người vì việc lớn sinh tử như Hòa thượng Liễu Quán, thật là hy hữu.
05/06/2011(Xem: 18409)
Ngôi chùa nhỏ nằm khiêm tốn trong khoảng đất rộng đầy cây trái. Buổi tối, mùi nhang tỏa ra từ chánh điện hòa với mùi thơm trái chín đâu đó trong vườn.
01/06/2011(Xem: 9456)
Cuộc đời và sự nghiệp của Khương Tăng Hội, ta hiểu biết qua hai bản tiểu sử xưa nhất, một của Tăng Hựu (446 - 511) trong Xuất tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 96a29-97a 17 và một của Huệ Hạo trong Cao Tăng truyện 1 ĐTK 2059 tờ 325a13-326b13. Bản của Huệ Hạo thực ra là một sao bản của bản Tăng Hựu với hai thêm thắt. Đó là việc nhét tiểu sử của Chi Khiêm ở đoạn đầu và việc ghi ảnh hưởng của Khương Tăng Hội đối với Tô Tuấn và Tôn Xước ở đoạn sau, cùng lời bình về sai sót của một số tư liệu. Việc nhét thêm tiểu sử của Chi Khiêm xuất phát từ yêu cầu phải ghi lại cuộc đời đóng góp to lớn của Khiên đối với lịch sử truyền bá Phật giáo của Trung Quốc, nhưng vì Khiêm là một cư sĩ và Cao Tăng truyện vốn chỉ ghi chép về các Cao Tăng, nên không thể dành riêng ra một mục, như Tăng Hựu đã làm trong Xuất tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 97b13-c18, cho Khiêm.
31/05/2011(Xem: 27462)
Quy ẩn, thế thôi ! (Viết để thương một vị Thầy, mỗi lần gặp nhau thường nói “mình có bạn rồi” dù chỉtrong một thời gian rất ngắn. Khi Thầy và tôi cách biệt, thỉnh thoảng còn gọi điệnthoại thăm nhau) Hôm nay Thầy đã đi rồi Sắc không hai nẻo xa xôi muôn ngàn Ai đem lay ánh trăng vàng Để cho bóng nguyệt nhẹ nhàng lung linh Vô thường khép mở tử sinh Rong chơi phù thế bóng hình bụi bay Bảo rằng, bản thể xưa nay Chơn như hằng viễn tỏ bày mà chi
27/05/2011(Xem: 12736)
Vào năm 247, một vài năm sau khi Chi Khiêm rời khỏi kinh đô Kiến Nghiệp, Khương Tăng Hội, một vị cao tăng gốc miền Trung Á, đã đến đây. Ngài đến từ Giao Chỉ, thủ phủ của Giao Châu ở miền cực Nam của đế quốc Trung Hoa (gần Hà nội ngày nay). Gia đình của Ngài đã sinh sống ở Ấn độ trải qua nhiều thế hệ; thân phụ của Ngài, một thương gia, đến định cư ở thành phố thương mại quan trọng này.
25/05/2011(Xem: 7219)
Đại lão Hòa Thượng Thích Đồng Huy HT. Thích Đồng Huy - Thành viên HĐCM, Ủy viên HĐTSTW GHPGVN, Trưởng ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Trưởng ban Quản trị Đại Tòng Lâm, Viện chủ Tu viện Vạn Hạnh.