Tản Mạn Tháng Hai

26/03/201821:08(Xem: 10257)
Tản Mạn Tháng Hai

TẢN MẠN THÁNG HAI

 

     Tháng hai, trời khô hanh và nắng, không còn những cơn gió nhẹ,  những sợi mưa phùn. Chỉ là, như một lẽ tất nhiên, Giêng qua thì Hai đến, chùng chình và lặng lẽ...

     Thuở ấy, những năm đầu của thập niên 80, ở Tòng Lâm cạnh ngôi thảo am mà tôi tá túc có một cái thất bé xíu lợp bằng lá dừa. Nghe nói trong đó có một sư cô tuổi còn rất trẻ đang tịnh tu, lạ là suốt hai năm trời ở ngay sát bên cạnh, tôi chưa từng nhìn thấy mặt thậm chí dáng người. Mỗi lần đi ngang qua ngôi thất lá ấy, bước chân tôi cũng khẽ khàng hơn, vì sợ động niệm người đang công phu tu tập. Tôi trân trọng cái sự “tuyệt dấu hành tàng” và từng tự nhủ, sau này mình cũng chọn cuộc sống như thế.

     Những mơ ước trẻ con thì ai mà chẳng có, nhưng làm được hay không thì lại là chuyện khác. Có điều sau này, trong những lần đứng trên bục giảng, khi thính chúng hoài nghi về sự cống hiến cho cộng đồng của những người nhập thất tịnh tu lâu năm, nghĩ tới hàng loạt những cuốn “Báo Ứng Hiện Đời” mà cô ấy biên soạn lợi lạc không thể nghĩ bàn, tôi đã có thể mạnh dạn mà hồi đáp họ.

Ni Su Nhu Thuy 3

     Cảm ơn thay người Thầy không biết mặt đã dạy tôi một điều: không phải cứ thăng tòa giảng Kinh mới gọi là Hoằng Pháp!

     Tôi 10 tuổi, ngồi đọc sách một mình bên hiên, thỉnh thoảng Sư đi ngang chỗ tôi để đến thăm người em ruột của mình (chính là sư cô trẻ nhập thất ở trên), đã ghé lại hỏi han đôi câu, xoa đầu rồi chỉ tôi dăm ba nét vẽ. Có lần còn vui vẻ tặng tôi cuốn Ba Trụ Thiền. Tôi đọc hết liền trong một ngày và đó chính là quyển sách Thiền đầu tiên mà tôi tiếp xúc. Mãi sau này, tôi vẫn hoài nghi không biết ngày đó Sư có nhầm lẫn hay không mà đưa cho một đứa bé con 10 tuổi cuốn Ba Trụ Thiền chứ không phải là quyển Truyện cổ tích nào khác.

     Cảm ơn người Thầy đầu tiên dạy cho tôi biết cách cúi đầu trân trọng trước tánh linh của muôn loài. Hôm qua, đi dự Lễ Tưởng Niệm Sư ở Viên Chiếu, tôi kính cẩn đê đầu cảm tạ và thầm gọi một tiếng Thầy.

     14 tuổi, tôi với cái chỏm dài vắt vẻo tuần 2 buổi lội bộ đến Liễu Đức để học chữ Nho với vị Thầy già vui tính, chính là thân phụ của hai sư cô trên. Đó là người Thầy dạy cho tôi những nét sổ, nét ngang đầu tiên của chữ Hán. Thầy cho bài tập và chấm rất kỹ. Tới giờ tôi cũng còn nhớ như in những nét chữ ngô nghê bằng bút lông to tướng trên quyển vở được đóng từ giấy thép vụn của mình có xen lẫn rất nhiều những nét khoanh tròn màu đỏ của Thầy. Thầy dạy viết chữ Hán là phải ngang ngay sổ thẳng, nét đá ra phải dứt khoát, lẹ làng, mà ‘bé con’ thì cả đời cứ dùng dằng, lưỡng lự nên đến tận giờ vẫn mải miết đa đoan...

Tang lễ Sư diễn ra ở Chùa Phổ Hiền (Worcester, Massachusetts) nơi mà vị trụ trì thật ra chẳng có chút liên hệ gì về tông môn, hay họ hàng. Vậy mà, từ những đoạn youtube xem được, nhìn những lo lắng ân cần, tận tụy của Thầy trò Ni sư đối với vị khách Ni giáo thọ trong những giờ phút cuối, tận cho đến lúc di quan. Tôi cảm động và ngưỡng mộ quá chừng quá đỗi. Tình thương “vô duyên từ” và lòng vị tha vô ngã của Bồ tát là đây chứ còn đâu nữa. Tôi cúi đầu niệm ân một vị Thầy chưa biết mặt đã dạy tôi bài học sống động của tình người...

Tháng hai vừa đến đã mang theo những nốt trầm day dứt, nhưng cũng từ đó đã vẽ nên những gam màu khác biệt của cuộc sống...

Tạ ơn cuộc đời, tạ ơn những niềm riêng vẫn còn bỏ ngỏ, để ta biết trân quý hơn từng phút giây hiện hữu và từng cơn gió nhẹ đi qua. Để ta biết một điều, có những con sông đâu hề muốn gắn đời mình với lịch sử, chiến công. Là người ta tự đóng cọc, vinh danh làm choáng chật dòng chảy tự nhiên của nó. Họ đâu biết rằng những con sông muôn đời chỉ muốn làm sông, bình yên trôi lặng lẽ....

Đại Tòng Lâm, 22:00, 8.2.Mậu Tuất

Sakya Như Bảo

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/08/2011(Xem: 8798)
Hòa thượng Thích Bích Lâm, nguyên Phó Viện trưởng Viện Hoằng đạo, Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam; nguyên Chánh Đại Diện GHPGCT Trung phần, Tổ thứ 3 Tổ đình Nghĩa Phương, Tổ Khai sơn các chùa thuộc Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương, Tông trưởng Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương (1921 - 1972).
30/07/2011(Xem: 10049)
Thế danh: Nguyễn Đình Mân, Pháp danh: Thị Uẩn, Pháp tự: Hạnh Đạo, Pháp hiệu: Thuần Phong, Đời thứ 42 thuộc dòng Thiền Lâm Tế.
28/07/2011(Xem: 8503)
Hòa Thượng Thích Đạt Hảo, Hòa thượng Thích Đạt Hảo thế danh Lê Văn Bân, pháp danh Tánh Tướng, pháp hiệu Đạt Hảo, sanh năm Đinh Tỵ (1917), tại ấp Bình Hữu, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Gia Định (1). Sư là con út trong gia đình có 6 anh chị em, 2 người trai bốn người gái; đặc biệt cả nhà có 8 người đều lần lượt xuất gia tu hành: -Phụ thân Lê Văn Bộn (1876- 1943), pháp danh Tánh Từ, pháp hiệu Đạt Bi. -Mẫu thân Ngô Thị Cờ (1884-1941), pháp danh Tánh Niệm, pháp hiệu Đạt Phật. -Chị thứ 2 Lê Thị Tình (1901-1970), pháp danh Tánh Hóa, pháp hiệu Đạt Đạo. -Chị thứ 3 Lê Thị Ưa (1904- ?) pháp danh Tánh Viên, pháp hiệu Đạt Thông. -Chị thứ 4: Lê Thị Luận (1907- ?), pháp danh Tánh Minh, pháp hiệu Đạt Quang. Chị thứ 5 Lê Thị Nghị (1909- ?), pháp danh Tánh Hồng, pháp hiệu Đạt Tâm -Anh thứ 6 Lê Văn Kỉnh (1915-1962), pháp danh Tánh Kỉnh, Pháp hiệu Đạt Xương. -Em út là Hòa thượng Thích Đạt Hảo.
15/07/2011(Xem: 9248)
Thiền sư húy thượng NGUYÊN hạ BÀNG - ĐẠI NGUYỆN tự CHÍ NĂNG hiệu GIÁC HOÀNG , thế danh LÊ BẢN, sinh năm Canh Dần 1950, tại thôn An Ngãi, xã Nhơn An huyện An Nhơn tỉnh Bình Định. Ngài sinh trong một gia đình nhiều đời sùng kính Tam Bảo. Thân phụ: Cụ ông LÊ TRÀ, thân mẫu: Cụ Bà TRẦN THỊ TÁM. Ngài là anh cả trong gia đình gồm có năm người con.
24/06/2011(Xem: 9487)
Vua Lê Đại Hành mất vào năm 1005, các hoàng tử tranh giành ngôi vua tạo nên cảnh khổ đau tràn ngập cho Dân Tộc, bên trong bị nội loạn, bên ngoài bị ngoại xâm đe dọa. Trước những thảm trạng đen tối u ám và đầy dẫy những thống hận đó, Vạn Hạnh thiền sư xuất hiện như một thứ ánh sáng phi thường quét sạch vùng trời giông tố để đưa vận nước bước vào thời đại huy hoàng thịnh trị.
24/06/2011(Xem: 9000)
Trận chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Vương Quyền năm 939 là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử dựng nước của Việt Nam. Ngọn sóng Bạch Đằng Giang đã cuốn trôi đi nỗi đau nhục của người dân nô lệ, nhận chìm tham vọng của nòi Hán áp đặt lên đất nước ta trong suốt một ngàn năm. Từ đây Việt Nam không còn là một huyện lỵ của người Hán, từ đây một quốc gia đúng nghĩa đã xuất hiện dưới vòm trời Đông Á.
24/06/2011(Xem: 11244)
Ngài họ Nguyễn húy là Hữu Kê, dòng họ của Đại thần Nguyễn Trãi. Nguyên quán thuộc Tông sơn Gia miêu Ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa. Ngài thọ sanh năm Nhâm Tý (1912), tại làng Nguyệt Biều, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Vốn thọ sanh trong gia đình vọng tộc, quý phái, thích lý luận Nguyễn Hữu Độ.
24/06/2011(Xem: 8005)
Ngài Mật Thể, pháp danh Tâm Nhất, pháp tự Mật Thể, tên thật là Nguyễn Hữu Kê, sinh năm 1912 ở làng Nguyệt Biều, quận Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Chánh quán huyện Tống Sơn, Gia Miêu ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa, thuộc dòng Thích Lý của Cụ Nguyễn Hữu Độ. Gia đình Ngài qui hướng đạo Phật, cụ thân sinh và người anh ruột đều xuất gia.
23/06/2011(Xem: 8813)
Đọc Thánh Đăng Ngữ Lục, do Sa môn Tánh Quảng, Thích Điều Điều đề tựa trùng khắc, tái bản năm 1750, ta thấy đời Trần có năm nhà vua ngoài việc chăn dân, họ còn học Phật, tu tập và đạt được yếu chỉ của thiền, như vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông và Trần Minh Tông. Và sự chứng ngộ của các Thiền sư đời Trần thì không thấy đề cập ở sách ấy, hoặc có đề cập ở những tư liệu khác mà hiện nay ta chưa phát hiện được, hoặc phát hiện thì cũng phải tra cứu và luận chứng dài dòng rồi mới kết đoán ra được.
23/06/2011(Xem: 9483)
Đọc sử Phật giáo Việt Nam, hẳn chúng ta đều biết nước mình có một ông vua đi tu ngộ đạo, đó là vua Trần Nhân Tông. Ngài làm vua trong thời gian nước nhà đang bị quân Mông Cổ đem đại quân sang xâm lấn nước ta lần thứ ba.