Cảm niệm Ân sư

19/10/201717:24(Xem: 6497)
Cảm niệm Ân sư



HT Thich Tri Tam (1934-2017)
Cảm niệm Ân sư


Kính lạy, giác linh Thầy,
Thầy ra đi, như một hành tinh lạc,
Thầy đi vào vô biên, chúng con buồn ngơ ngác.

Thầy đi, mang theo cả tình đạo vị, thương yêu,
Ngôi già lam còn nhớ, hoa cỏ vẫn mong chờ.

Thầy một lần nhắm mắt, là qua hết một đời,
 Chúng con buồn quay quắt, ngân ngấn lệ đầy vơi...

Kính lạy, Giác linh Thầy

Cội tùng, từ nay đã đổ
Gốc bách, giờ đã trơ cành
Bậc Đống lương, về cõi an lành
Đấng Long tượng, nghìn thu cách biệt.

Dẫu biết rằng:

Chuyện đến đi, vô thường sinh diệt
Ấy cũng là, định luật xưa nay
Sao mà lòng, vẫn cứ bi ai
Không ngăn được, đôi dòng nước mắt.

Thầy  ơi!

Nhớ lại:
Thuở Thế Tôn, Niết Bàn nơi Ta la song thọ 
Hàng chư thiên, Thánh chúng cũng rơi lệ ngậm ngùi

Thì hôm nay:

Chốn  Tổ đình Nghĩa Phương
Ngài an nhiên, thâu thần tịch diệt
Sao tránh khỏi, mọi người da diết
Khôn cầm lòng, giọt lệ rưng rưng!


Nhớ Giác  linh xưa:

Xuất thân, nơi địa linh nhân kiệt
Vùng đất Thủ đô Hà Nội, quê lụa Hà Tây

Ra đời trong gia đình khoa bảng họ Trương
Thuở nhỏ, giữ gìn nề nếp gia phong
Lớn lên, rèn luyện thân tâm tri thức
19 tuổi,  nhân duyên thoát tục

Năm 1953, rời Tảo Khê quê mẹ

Bôn ba, từ Bắc vào Nam

Rồi nhân duyên lại đến

Đất Nha Trang, miền thùy dương cát trắng

Sông núi  hữu tình, xứ  sở Trầm Hương
Ngài dừng chân, nơi Bồ đề địa Lương Sơn
Được Bổn sư Bích Lâm, thu nhận

Làm Thầy giáo, ăn cơm chùa học đạo

Năm 1954,  hội đủ nhân duyên
Cầu Thầy Bích Lâm xuất gia thí phát
Nương nhờ Bổn sư dìu dắt
Ngài sớm lãnh hội pháp màu
Phật học Sơ-Trung, giáo lý chuyên sâu
Vừa học, vừa tu, dạy học, hành đạo,

 Sở hành chân tâm tỏ rõ
Nơi già lam Nghĩa Phương  theo Bổn Sư

Nhất y, nhất thuận

Ngày đêm kinh kệ, trau dồi giáo lý Phật Đà
Bắt đầu sự nghiệp hoằng dương chánh pháp
Khuôn Nghĩa Hương  trở về gieo hạt
Đất  Phước Tiến  chăm chút giống Thiền
Quả thật Ngài hội đủ nhân  duyên
Cùng Bổn sư lập trường Nghĩa thục Bát Nhã

Làm Hiệu trưởn dạy con em nghèo Phật tử

Trong tưởng niệm đêm nay có nhiều thế hệ học trò…

Nhớ Giác linh xưa:

Chí nguyện lợi sanh chẳng nề khó nhọc
Tâm hạnh độ đời nào ngại gian lao
Dù bệnh đau sức yếu tuổi cao
Ngài vẫn vẹn tròn Phật sự
Dạy đệ tử, từng câu từng chữ
Từng ngôn hành, thân giáo uy nghiêm
Trong mắt Ngài đệ tử luôn thơ dại yếu mềm
Nên Ngài vẫn luôn bên cạnh chỉ bày rành rọt
Dẫu là học Tăng, hay làm Trụ trì, Giáo thọ
Ngài cũng ân cần giáo huấn bảo khuyên
Ngài rất nghiêm, nhưng ai cũng muốn được đến gần
Ai cũng muốn được, sưởi ấm trong tình thương cao cả 
Dẫu thân thể bệnh  đau, mà ánh nhìn luôn hỷ xả
Dẫu tứ đại hoành hành, mà tâm trí vẫn kiện nhu.

Những tưởng: 

Cơn trọng  bệnh  sẽ qua, cho tuổi đời trăm năm tròn đủ
Sẽ tiếp tục, nối đuốc trao đèn, tiếp dẫn hậu lai
Đạo đời viên dung, sứ mạng hoằng khai
Dẫn dắt môn hạ tuyên bày chánh pháp

Nào ngờ đâu:

Một tối cuối Thu, không chờ lại đến,

 Ngài quãy dép quy Tây…
Đất trời Nha Trang  bi lệ nhuộm màu tang
Huynh đệ, Môn hạ, hiếu đồ thương tiếc bàng hoàng
Cung tiễn Ngài Cao Đăng Phật quốc…

Than ôi!

Vĩnh biệt Ngài, nỗi đau tê tái
Cảm nghĩa Đệ huynh, se sắt buồn thương
Thành kính xin dâng một nén tâm hương
Nguyện noi dấu Người,  tri-hành tỏ rạng

Giờ đây:

Mây tan, tuyết rả, hoa héo, trăng tà 
Sinh tử vô thường, tan hợp có không
Vĩnh biệt Ngài xin cảm niệm đôi dòng

Thư bất tận ngôn,
Thắp tuệ lạp, gửi hư không vô tận

Than ôi!

Mấy lời mộc mạc, một bức ai văn.
Các đệ  kiền thành, hòa nam bái bạch.


Trí Bửu – cúi đầu cảm niệm Ân sư HT Thích Trí Tâm
Tháng 10/2017






Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/02/2013(Xem: 11420)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 12550)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24023)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 9982)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8589)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8474)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.
12/01/2013(Xem: 8353)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.
07/01/2013(Xem: 9489)
Phần lớn độc giả biết nhiều đến các tiểu luận và các tập thơ phản chiến, nhưng ít người biết đến những bài thơ Thiền của Nhất Hạnh. Tôi xin trích một bài được nhà xuất bản Unicorn Press xuất bản trong tâp thơ Zen Poems của Nhất Hạnh vào năm 1976 (bản dịch Anh Ngữ) của Võ Đình. Bài này được in vào tuyển tập thơ nhạc họa vào mùa Phật Đản 1964
10/12/2012(Xem: 9679)
Cả cuộc đời 86 tuổi của Ngài Đội trời đạp đất, đã tròn chưa bản nguyện Kiếp tu hành 81 năm của Ngài Gánh vác hy sinh...
09/10/2012(Xem: 14937)
Thiền sư Lê Mạnh Thátcho rằng Vua Trần Nhân Tông là một nhân vật tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam nhất là vì tư tưởng hòa giải dân tộc của ông vẫn còn tính thời sự. Trả lời câu hỏi của BBC vì sao tư tưởng của Trần Nhân Tông (trị vì từ năm 1278-1293) và là Phật Hoàng, sáng lập ra phái thiền phái Trúc Lâm vẫn còn có tính thời sự đối với Việt Nam và cả quan hệ Mỹ - Việt cũng như Việt - Trung, Tiến sỹ Lê Mạnh Thát nói: