Cảm niệm Ân sư

19/10/201717:24(Xem: 6486)
Cảm niệm Ân sư



HT Thich Tri Tam (1934-2017)
Cảm niệm Ân sư


Kính lạy, giác linh Thầy,
Thầy ra đi, như một hành tinh lạc,
Thầy đi vào vô biên, chúng con buồn ngơ ngác.

Thầy đi, mang theo cả tình đạo vị, thương yêu,
Ngôi già lam còn nhớ, hoa cỏ vẫn mong chờ.

Thầy một lần nhắm mắt, là qua hết một đời,
 Chúng con buồn quay quắt, ngân ngấn lệ đầy vơi...

Kính lạy, Giác linh Thầy

Cội tùng, từ nay đã đổ
Gốc bách, giờ đã trơ cành
Bậc Đống lương, về cõi an lành
Đấng Long tượng, nghìn thu cách biệt.

Dẫu biết rằng:

Chuyện đến đi, vô thường sinh diệt
Ấy cũng là, định luật xưa nay
Sao mà lòng, vẫn cứ bi ai
Không ngăn được, đôi dòng nước mắt.

Thầy  ơi!

Nhớ lại:
Thuở Thế Tôn, Niết Bàn nơi Ta la song thọ 
Hàng chư thiên, Thánh chúng cũng rơi lệ ngậm ngùi

Thì hôm nay:

Chốn  Tổ đình Nghĩa Phương
Ngài an nhiên, thâu thần tịch diệt
Sao tránh khỏi, mọi người da diết
Khôn cầm lòng, giọt lệ rưng rưng!


Nhớ Giác  linh xưa:

Xuất thân, nơi địa linh nhân kiệt
Vùng đất Thủ đô Hà Nội, quê lụa Hà Tây

Ra đời trong gia đình khoa bảng họ Trương
Thuở nhỏ, giữ gìn nề nếp gia phong
Lớn lên, rèn luyện thân tâm tri thức
19 tuổi,  nhân duyên thoát tục

Năm 1953, rời Tảo Khê quê mẹ

Bôn ba, từ Bắc vào Nam

Rồi nhân duyên lại đến

Đất Nha Trang, miền thùy dương cát trắng

Sông núi  hữu tình, xứ  sở Trầm Hương
Ngài dừng chân, nơi Bồ đề địa Lương Sơn
Được Bổn sư Bích Lâm, thu nhận

Làm Thầy giáo, ăn cơm chùa học đạo

Năm 1954,  hội đủ nhân duyên
Cầu Thầy Bích Lâm xuất gia thí phát
Nương nhờ Bổn sư dìu dắt
Ngài sớm lãnh hội pháp màu
Phật học Sơ-Trung, giáo lý chuyên sâu
Vừa học, vừa tu, dạy học, hành đạo,

 Sở hành chân tâm tỏ rõ
Nơi già lam Nghĩa Phương  theo Bổn Sư

Nhất y, nhất thuận

Ngày đêm kinh kệ, trau dồi giáo lý Phật Đà
Bắt đầu sự nghiệp hoằng dương chánh pháp
Khuôn Nghĩa Hương  trở về gieo hạt
Đất  Phước Tiến  chăm chút giống Thiền
Quả thật Ngài hội đủ nhân  duyên
Cùng Bổn sư lập trường Nghĩa thục Bát Nhã

Làm Hiệu trưởn dạy con em nghèo Phật tử

Trong tưởng niệm đêm nay có nhiều thế hệ học trò…

Nhớ Giác linh xưa:

Chí nguyện lợi sanh chẳng nề khó nhọc
Tâm hạnh độ đời nào ngại gian lao
Dù bệnh đau sức yếu tuổi cao
Ngài vẫn vẹn tròn Phật sự
Dạy đệ tử, từng câu từng chữ
Từng ngôn hành, thân giáo uy nghiêm
Trong mắt Ngài đệ tử luôn thơ dại yếu mềm
Nên Ngài vẫn luôn bên cạnh chỉ bày rành rọt
Dẫu là học Tăng, hay làm Trụ trì, Giáo thọ
Ngài cũng ân cần giáo huấn bảo khuyên
Ngài rất nghiêm, nhưng ai cũng muốn được đến gần
Ai cũng muốn được, sưởi ấm trong tình thương cao cả 
Dẫu thân thể bệnh  đau, mà ánh nhìn luôn hỷ xả
Dẫu tứ đại hoành hành, mà tâm trí vẫn kiện nhu.

Những tưởng: 

Cơn trọng  bệnh  sẽ qua, cho tuổi đời trăm năm tròn đủ
Sẽ tiếp tục, nối đuốc trao đèn, tiếp dẫn hậu lai
Đạo đời viên dung, sứ mạng hoằng khai
Dẫn dắt môn hạ tuyên bày chánh pháp

Nào ngờ đâu:

Một tối cuối Thu, không chờ lại đến,

 Ngài quãy dép quy Tây…
Đất trời Nha Trang  bi lệ nhuộm màu tang
Huynh đệ, Môn hạ, hiếu đồ thương tiếc bàng hoàng
Cung tiễn Ngài Cao Đăng Phật quốc…

Than ôi!

Vĩnh biệt Ngài, nỗi đau tê tái
Cảm nghĩa Đệ huynh, se sắt buồn thương
Thành kính xin dâng một nén tâm hương
Nguyện noi dấu Người,  tri-hành tỏ rạng

Giờ đây:

Mây tan, tuyết rả, hoa héo, trăng tà 
Sinh tử vô thường, tan hợp có không
Vĩnh biệt Ngài xin cảm niệm đôi dòng

Thư bất tận ngôn,
Thắp tuệ lạp, gửi hư không vô tận

Than ôi!

Mấy lời mộc mạc, một bức ai văn.
Các đệ  kiền thành, hòa nam bái bạch.


Trí Bửu – cúi đầu cảm niệm Ân sư HT Thích Trí Tâm
Tháng 10/2017






Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
29/08/2012(Xem: 7671)
Tôi muốn nói đến Sư Huynh Phổ Hòa, người anh lớn trong Gia Đình Phật Tử Việt Nam tức Huynh Trưởng HỒNG LIÊN Phan Cảnh Tuân khả kính của chúng ta.
23/08/2012(Xem: 10994)
Kính bạch Sắc tứ Thập Tháp Tổ đình, Tân tịch trụ trì Thích Kế Châu, Đại lão Hòa thượng giác linh, tác đại chứng minh. Hôm nay, chúng tôi là những Pháp huynh, Pháp đệ thuộc dòng pháp Chúc Thánh, Tổ đình thứ hai Quảng Nam, và dòng pháp Thiền Tôn, Tổ đình thứ ba – Huế, tại Bình Định, và cũng là con cháu tám, chín đời dòng pháp Thập Tháp – Tổ đình thứ nhất, thuộc dòng pháp Thiên đồng Trung quốc tại Việt nam. Giờ này, tất cả chúng tôi đã vân tập đông đủ trước linh đài trang nghiêm, đau buồn này để làm lễ tiễn đưa kim quan Cố Đại lão Hòa thượng vào “BẢO THÁP MẬT TÀNG”, nghìn thu an nghỉ. Kính bạch Tân tịch Đại lão Hòa thượng giác linh! Trước hết, tại nơi đây, tất cả chúng tôi: Chí thành đến trước linh tòa, Cung kính dâng lên pháp cúng Kinh diên tán tụng,
04/08/2012(Xem: 10074)
Hòa thượng Thích Duy Lực, pháp danh Duy Lực, pháp tự Giác Khai, nối pháp thiền phái Lâm Tế. Ngài thế danh La Dũ, sinh ngày 5 tháng 5 năm Quý Hợi 1923, nhằm Trung Hoa Dân quốc thứ 12, tại làng Long Yên, huyện Phong Thuận, phủ Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc; thân phụ là cụ ông La Xương, thân mẫu là cụ bà Lưu Thị. Ngài sinh trưởng trong một gia đình chuyên nghề nông trang, quy kính Tam bảo. Năm Mậu Dần 1938, Ngài được 16 tuổi, vừa học xong tiểu học thì phải lên đường theo cha sang Việt Nam sinh sống. Khi mới sang, gia đình Ngài dừng chân ở Cần Thơ lập nghiệp; trong những lúc rỗi rảnh Ngài thường tranh thủ tự học thên Hoa văn và quốc ngữ Việt Nam.
20/07/2012(Xem: 12024)
Thiền sư Bạch Ẩn Huệ Hạc (1685–1768) là vị Tổ trung hưng thiền Lâm Tế tại Nhật Bản. Xa rời phương thức đánh hét cùng các ngôn ngữ siêu tuyệt, Ngài cố công diễn tả Thiền bằng ngôn ngữ dễ hiểu để tầng lớp bình dân có thể hiểu được.
19/07/2012(Xem: 10803)
Qua hàng ngàn năm Lịch sử của Dân tộc, hơn 2000 năm có mặt trên đất nước, Phật giáo đã đóng góp cho Tổ quốc một thời gian dài trên dưới 400 năm an bình thịnh vượng, chưa nói đến những thời đại riêng lẻ ngắn ngủi.
03/07/2012(Xem: 14746)
Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, thế danh Nguyễn Văn Bình, sinh ngày 02 tháng 09 năm Đinh Tỵ (17-10-1917), tại làng Mỹ An Hưng (Cái Tàu Thượng) huyện Châu Thành, tỉnh Sa Đéc (Đồng Tháp).
30/06/2012(Xem: 12339)
Thành Kính Tưởng Niệm Hòa Thượng Thích Giác Lâm (1928 - 2012)
24/06/2012(Xem: 24190)
Kính lạy tôn dung Ngài Con xin tìm lại dấu xưa 39 năm, hai thế kỷ sao vừa Nín thở, lặng yên, đọc từng con chữ
12/06/2012(Xem: 8397)
Hòa thượng họ Đỗ, huý Châu Lân, sinh năm 1927 (Đinh Mão) tại thôn Quan Quang, xã Nhơn Khánh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Đỗ Hoạch, và thân mẫu là cụ bà Trần Thị Tú. Gia đình gồm năm người con, hai trai và ba gái; Hòa thượng Thích Đỗng Quán thứ ba, và Ngài là thứ tư. Gia đình Ngài đời đời thuần tín Tam bảo. Cha mất sớm, được mẹ chăm lo dạy dỗ. Với bẩm tánh thông minh và hiếu học, năm 11 tuổi Ngài thi đậu bằng Yếu lược. Việc này chưa xảy ra ở vùng quê của Ngài nên đích thân ông Lý trưởng đến thăm và chúc mừng. Đó là một vinh dự cho gia đình và quê hương Ngài lúc bấy giờ.
11/06/2012(Xem: 9500)
Sự nghiệp thiền sư Tăng Hội rất lớn lao. Nhờ vào những trước tác của Thầy mà ta biết được hành tướng của sự thực tập thiền tại trung tâm Luy Lâu Việt Nam và tại trung tâm Kiến Nghiệp Trung Quốc ngày xưa. Tư tưởng thiền của thầy Tăng Hội là tư tưởng thiền Đại Thừa, đi tiên phong cho cả tư tưởng Hoa Nghiêm và Duy Thức Bao giờ các chùa Việt Nam sẽ thờ tổ Khương Tăng Hội Hiện nay chúng ta đang ở thế kỷ XXI với nền văn minh rực rỡ, với nhiều thiết bị hiện đại, với mức sống rất cao, với vốn hiểu biết rất thien su khuong tang hoi.jpg