Hơn 30 năm nhìn lại

10/05/201607:47(Xem: 9466)
Hơn 30 năm nhìn lại

Hơn 30 năm nhìn lại

Kính dâng nhị vị HT Thích Huyền Tôn, HT Thích Như Huệ


Con đến Úc Châu năm 1984, tức là sau một năm Giáo Hội PGVNTN Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan được thành lập (1983). Vì vậy, con có duyên gần gũi nhị vị Hòa Thượng vào những dịp sinh hoạt PG.

Đến năm 1986, Đại Hội Tăng Già, còn gọi là Đại Hội Tăng Ni lần đầu tiên được tổ chức tại Chùa Pháp Hoa, Adelaide, Nam Úc do HT Thích Như Huệ đứng ra tổ chức. Ngài đã vui mừng đảm trách công tác Phật sự trọng đại này. Tuy ngôi chùa Pháp Hoa lúc bấy giờ đơn sơ nhỏ bé, nhưng đại nguyện của Hòa Thượng thì rất bao la, Ngài lúc nào cũng hoan hỷ với nụ cười luôn ở trên môi.

Đại Hội Tăng Già lúc ấy chỉ vỏn vẹn có 3 vị Hòa Thượng, 4 vị Thượng Tọa, 1 vị Đại Đức và 4 vị Tỳ Kheo Ni. Đếm đi đếm lại chỉ hơn 10 vị, ngồi chưa hết một cái bàn dài. Tuy là ít nhưng lại đầy khí thế, hăng say, đóng góp xây dựng một Giáo Hội PGVN trên đất Úc.

Ba vị Hòa Thượng gồm có: HT Thích Phước Huệ, Hội Chủ; HT Thích Huyền Tôn, Đệ nhất Phó Hội Chủ kiêm Giáo Hội Trưởng Hội PG Victoria; HT Thích Như Huệ, Đệ nhị Phó Hội Chủ kiêm Giáo Hội Trưởng Hội PG Nam Úc. Bốn vị Thượng Tọa gồm có: TT Thích Bảo Lạc, GH Trưởng PG NSW; TT Thích Quảng Ba, GH Trưởng PG Canberra; TT Thích Phước Nhơn, GH Trưởng PG Tây Úc; TT Thích Nhật Tân, GH Trưởng PG Queensland; 1 vị Đại Đức là Thích Minh Lâm; 4 vị Tỳ Kheo Ni là: TN Phước Trí, TN Chơn Đạo, TN Như Thanh (Phước Hoàn), TN Như Thiền.

PGVN trong những năm đầu tiên trên xứ Úc này vô cùng khó khăn, cơ sở PG chỉ là những ngôi nhà tạm bợ, thiếu trước hụt sau. Từng bước từng bước, quý Ngài tùy duyên, ẩn nhẫn thực hiện hoài bão trọng trách Sứ Giả Như Lai của mình. Mỗi người mang một sứ mạng, đi đến một góc trời xa xôi, một mình một bóng, âm thầm mang ánh sáng Chánh Pháp vào trong cuộc đời, cho dù phải đối mặt với không biết bao nhiêu khó khăn nghịch cảnh.

Tại Hội PG Nam Úc mây trời ngàn dặm, HT Thích Như Huệ là vị GH Trưởng khá lớn tuổi trong các vị GH Trưởng tại các tiểu bang khác. Quên đi tuổi cao sức yếu, Ngài đã từng bước xây dựng cơ sở GH tại Chùa Pháp Hoa. Ngài thường xuyên có mặt khắp nơi khi GH cần đến.

"Đức tu nhẫn nại vẹn toàn
Nuốt điều cay đắng nuôi phần tinh anh
Chông gai khéo tạo tâm thành
Xưa nay nguyện lớn hành trình gian nan"
 (trích Kinh sách)

Khi còn ở VN, người tu sĩ sống trong các tu viện, cái gì cũng có sẵn, bên cạnh có Thầy Tổ, không lo lắng gì cả. Nhưng khi sang Úc, dấn thân hành đạo, mới thấy thấm thía cái nghĩa đạo tình đời, mới thấy đầy những chướng ngại khi lèo lái con thuyền Chánh Pháp: Đối nội, đối ngoại, sắp xếp, tổ chức, một mình một bóng, thiếu thốn mọi bề, xây dựng cơ sở, mắc nợ mắc nần, bị chửi bị bới...

"Sướng ích gì đâu chức Trụ Trì
Nguyện làm Phật sự phải thị phi
Khom trên cúi dưới dâu trăm họ
Sướng ích gì đâu chức Trụ Trì".

(khuyết danh)





HT Huyen Ton_HT Nhu Hue-Dai hoi tang ni-1986-1HT Huyen Ton_HT Nhu Hue-Dai hoi tang ni-1986-2HT Huyen Ton_HT Nhu Hue-Dai hoi tang ni-1986-3HT Huyen Ton_HT Nhu Hue-Dai hoi tang ni-1986-4

Đi làm Sứ Giả Như Lai đến các tiểu bang là cả một hạnh nguyện hy sinh to lớn. Đức Phật dạy rằng: "Có phát đại nguyện mới có thể xem thường chướng ngại":

" Tất cả rồi cũng trôi qua, 
Ba chìm bảy nổi cũng là thế thôi
Sự đời bèo nổi mây trôi
Con thuyền Đạo Pháp đầy vơi chập chùng"
(Thơ của Thích Nữ Phước Hoàn)

Đa số những ngôi chùa trên đất Úc không phải là Tu Viện chuyên tu, mà là Chùa Hội, có đạo đời hai lối, có sự tham gia của hàng cư sĩ trong Hội Chùa. Bởi vì:

"Đời không Đạo, đời vô nghĩa lý
Đạo không đời, biết chỉ cho ai".
(khuyết danh)

Cái khó của người tu sĩ thừa hành Phật sự trong các ngôi Chùa Hội là phải phương tiện, khéo léo, vừa dung hòa ý kiến hai bên, vừa giữ vững lập trường hướng thượng, luôn tạo cho mình một hướng đi tự tại, thong dong trong suốt cuộc hành trình.

 Tan rồi vọng động trần sa
Giác tâm trùm khắp hằng hà càn khôn
Này đâu là chốn thiền môn
Đạo đời hai lối hàn ôn tháng ngày
Ta đi giữa cuộc đổi thay
Nằm nghe tiếng gió bên ngoài thong dong
Vi vu khắp chốn bụi hồng
Thế gian cách trở có không sự thường.

(thơ của Thích Nữ Phước Hoàn)



Thời gian thấm thoát trôi qua, những Phật sự trọng đại cũng tuần tự tại Chùa Pháp Hoa Nam Úc. Năm 1997, Hội PG Nam Úc lại tưng bừng đón rước phái đoàn Văn Phòng II Viện Hóa Đạo tại Hoa Kỳ đến thăm Úc Châu. HT Như Huệ đứng ra tổ chức, bốn ngày vui hoan hỷ diễn ra dưới mái chùa Pháp Hoa nhỏ bé.

Gặp nhau tay bắt mặt mừng
Nửa vòng trái đất tưởng chừng xa xôi
Đủ duyên thì hội ngội thôi
Nụ cười nở khắp trên môi rộn ràng.
(thơ của Thích Nữ Phước Hoàn)

Lúc đó tụi nhỏ chúng con cũng có dịp được quý Ngài cho tháp tùng đi ăn nhà hàng Tây. Khi ăn món spagetty (mì sợi của Ý) mà không có đôi đũa. Ngài HT Huyền Tôn không biết dùng cái nĩa cuộn tròn sợi mì, nên cứ bị rớt lên rớt xuống hoài, ăn không được. Ngài liền ngó sang bàn bên cạnh của tụi con và hỏi "Như Thanh ơi, con có đem thức ăn nào khác không? Ăn kiểu này khó khăn quá". "Dạ, con có đem theo bắp nướng từ chùa, con thỉnh Hòa Thượng". Thế là Ngài Huyền Tôn liền cầm trái bắp nướng ăn ngon lành. Con liền 2 câu thơ: "Ăn đồ Tây rớt lên rớt xuống, món VN bắp nướng dễ cầm".

Người đời thường nói "Đốt đuốc đi khắp mọi nơi, tìm người tri kỷ trên đời khó thay". Có phước báo mới gặp được người bạn tốt, chia ngọt xẻ bùi, hàn huyên tâm sự. Suốt 32 năm qua, sống trong lòng của GH, con thấy 2 vị HT Huyền Tôn, HT Như Huệ của chúng ta như 2 cây đại thọ song song bên nhau trên các nẻo đường hoằng Pháp.

Tuổi già có cái vui già
Tôi cầm cây gậy bó hoa huynh cầm
Đường về Nam Úc xa xăm
Đón đưa với cả chân tâm đạo tình"
"Tuổi già chân thấp chân cao
Cùng chia cây gậy cùng nhau đạo tình
Huynh một cây, tôi một cây
Hai chân thêm gậy vững cây Bồ Đề.
(thơ của Thích Nữ Phước Hoàn)

Nước Úc Đại Lợi trời xanh mây trắng, thiên nhiên êm đềm. Hàng cây quanh năm Xuân qua Đông lại, đổi thay sắc màu. Nhìn những chiếc là vàng trên cành cây như báo hiệu cảnh vô thường biến dịch, nào ai tránh được tuổi già:

" Thoáng trước lá vẫn còn đây
Thoáng sau lá đã rơi đầy ngoài sân
Nào ai có biết trong giây phút
Chiếc lá lìa cành chiếc lá bay".
(Khuyết danh)

Vũ trụ con người, không gian, thời gian và cuộc sống. Thể xác, tâm hồn trong cái thân năm uẩn cũng không thể đứng yên ngoài vòng biến dịch của định luật vô thường:


"Mới bình minh đó đã hoàng hôn
Đang nụ cười tươi bỗng lệ tuôn
Trời thường sớm nắng chiều mưa vậy
Khuấy động lòng ta bao nỗi buồn".

(Khuyết danh)

HT Huyen Ton_HT Nhu Hue-1

Tuổi già có cái vui già
Tôi cầm cây gậy bó hoa huynh cầm
"Đường về Nam Úc xa xăm
Đón đưa với cả chân tâm đạo tình.
(thơ của Thích Nữ Phước Hoàn)
HT Huyen Ton_HT Nhu Hue-1a
Tuổi già chân thấp chân cao
Cùng chia cây gậy cùng nhau đạo tình.
(thơ của Thích Nữ Phước Hoàn)

HT Huyen Ton_HT Nhu Hue-1b
Huynh một cây, tôi một cây
Hai chân thêm gậy vững cây Bồ Đề.
(thơ của Thích Nữ Phước Hoàn)

 

 


HT Huyen Ton_HT Nhu Hue-1c2HT Huyen Ton_HT Nhu Hue-1d
HT Huyen Ton_HT Nhu Hue-Dai hoi tang ni-1986-5




Nhị vị Hòa Thượng của chúng ta đến cõi Ta Bà này như những hàng Như Lai Sứ Giả. Cũng tuổi trẻ hăng say, cũng tuổi già lụm cụm. Chiếc thân tứ đại này rồi cũng theo thời gian già yếu. Quý Ngài rồi cũng tuần tự xả bỏ những cái giả tạm để chứng nhập pháp thân vô tướng, trở về cõi Phật, an nhiên tự tại, xong việc rồi ra đi:

"Mắt sâu rát bóng thiên đường
Một khung trời nhỏ lá vàng chợt bay
Người ngồi giữa cuộc đổi thay
Nghe sông núi cạn phút giây vô thường"
(Khuyết danh)


Cõi tạm mà, bậc Bồ Tát nhập thế cứu đời, chuyện đến chuyện đi chỉ là quán trọ, nhưng Phật tánh vẫn luôn hiện hữu và đang bừng sáng giữa cõi thế gian:

"Đi trong cõi mộng ta không mộng
Đứng giữa đất trời chẳng vướng mong
Ngồi đây soi bóng mình qua lại
Đêm ngủ an bình với Tánh Không".
(Khuyết danh)

Nam Mô A Di Đà Phật

Viết tại Ni Viện Thiện Hòa, Sydney Mùa An Cư 2016
Kính cẩn bạch đôi lời để tán thán công hạnh của Nhị Vị Hòa Thượng
Con, Thích Nữ Phước Hoàn

 

 


Xem bài cùng tác giả

Thich Nu Phuoc Hoan


http://quangduc.com/author/post/9634/1/thich-nu-phuoc-hoan



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/06/2011(Xem: 12530)
Trong sáu thập niên qua, TIME đã không ngừng ghi chép lại những vinh quang cùng khổ nhọc của Á châu. Trong số đặc biệt kỷ niệm thường niên hôm nay, chúng tôi muốn bày tỏ lòng kính trọng của mình đến những nhân vật nổi bật đã góp phần vào việc hình thành nên thời đại chúng ta. Những thập niên xáo động nhất của một lục địa đông dân nhất trên trái đất này đã sản sinh ra hàng loạt những nhân vật kiệt xuất. Trong sáu mươi năm qua, kể từ khi TIME bắt đầu cho xuất bản ấn bản Á Châu, chúng tôi đã có cái đặc ân là được gặp gỡ đa số những nhân vật ngoại hạng này –theo dấu cuộc vận động hay trên chiến trường, trong phòng hội hay trong phòng thí nghiệm, tại cơ sở sản xuất hay tại phim trường.
16/06/2011(Xem: 7864)
Tôi có duyên lành gặp được ngài một lần khi ngài đến thăm Hòa thượng chùa Đông Hưng, bổn sư của tôi, cũng là y chỉ sư của Hòa thượng Quảng Thạc, một để tử xuất gia của ngài khi còn ở đất Bắc. Cung cách khiêm cung, ngài cùng Hòa thượng tôi đàm đạo về quá trình tu tập cũng như Phật học, hai ngài đã rất tâm đắc về chí nguyện giải thoát và cùng nhau kết luận một câu nói để đời : “Mục đích tu hành không phải để làm chính trị”. Cũng câu nói này, khi chia tay chư tăng miền Nam, ngài đã phát biểu với hàng pháp lữ Tăng ni đưa tiễn. Khi sưu tập tư liệu về cuộc đời của ngài, tôi may mắn gặp được các bậc tri thức cao đồ của ngài kể lại. Nay, nhân có cuộc hội thảo về phong trào chấn hưng Phật giáo miền Bắc và công hạnh của ngài, tôi xin được góp thêm đôi điều.
14/06/2011(Xem: 9151)
Thiền sư PHÁP THUẬN (Bính Tý 918): Thiền sư đời Tiền Lê, thuộc dòng thiền Tỳ-Ni-Đa-Lưu Chi, không rõ gốc gác quê quán và tên thật, chỉ biết rằng Sư họ Đỗ, xuất gia từ thuở nhỏ ở chùa Cổ Sơn (Thanh Hóa), sau theo học đạo Thiền sư Phù Trì ở chùa Long Thọ, nổi tiếng là uyên thâm đức độ. Tương truyền rằng chính Sư đã dùng nghệ thuật phù sấm, làm cố vấn giúp vua Lê Đại Hành nắm quyền bính, dẹp yên được hỗn loạn trong triều cuối đời nhà Đinh, được vua Lê vô cùng trọng vọng. Năm 990 niên hiệu Hưng Thống thứ 2, Sư không bệnh mà viên tịch, thọ 76 tuổi, để lại cho đời các tác phẩm: “Bồ Tát sám hối văn”, “Thơ tiếp Lý Giác”, và một bài kệ.
14/06/2011(Xem: 9188)
• Thiền sư Chân Không(Bính Tuất -1046): Sư họVương, thế danh Hải Thiềm, quê quán ở làng Phù Đổng (nay là Tiên Sơn-Bắc Ninh), xuất thân trong một gia đình quý tộc. Lúc thân mẫu của ông mang thai, cha ông nằm mộng thấy một vị tăng Ấn Độ trao cho cây tích trượng, sau đó thì ông ra đời. Mồ côi cha mẹ từ thuở niên thiếu, ông siêng chăm đọc sách không màng đến những chuyện vui chơi. Năm 20 tuổi ông xuất gia, rồi đi ngao du khắp nơi để tìm nơi tu học Phật Pháp. Nhân duyên đưa đẩy cho Sư đến chùa Tĩnh Lự ở núi Đông Cứu (Gia Lương-Hà Bắc), nghe Thiền sư Thảo Nhất giảng kinh Pháp Hoa mà ngộ đạo, được nhận làm đệ tử, sớm tối tham cứu thiền học, và được sư thầy truyền tâm ấn, thuộc dòng thiền Tì-ni-đa Lưu -chi, thế hệ thứ 16. Sau, Sư lên núi Phả Lại, trại Phù Lan (nay thuộc huyện Mỹ Văn-Hưng Yên) làm trụ trì chùa Chúc Thánh, ở suốt 20 năm không xuống núi để chuyên trì giới luật, tiếng thơm đồn xa đến cả tai vua.
13/06/2011(Xem: 18473)
Ôi, trong giáo pháp Phật đà của ta, việc trọng đại nhất là gì ? Con người sinh ra không từ cửa tử mà đến, chết không vào cửa tử mà đi. Thế nên người nằm non ở tổ, bỏ ngủ quên ăn, chẳng tiếc thân mạng, đều vì việc lớn sinh tử. Ở thời giáo suy pháp mạt này mà có người vì việc lớn sinh tử như Hòa thượng Liễu Quán, thật là hy hữu.
05/06/2011(Xem: 18403)
Ngôi chùa nhỏ nằm khiêm tốn trong khoảng đất rộng đầy cây trái. Buổi tối, mùi nhang tỏa ra từ chánh điện hòa với mùi thơm trái chín đâu đó trong vườn.
01/06/2011(Xem: 9450)
Cuộc đời và sự nghiệp của Khương Tăng Hội, ta hiểu biết qua hai bản tiểu sử xưa nhất, một của Tăng Hựu (446 - 511) trong Xuất tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 96a29-97a 17 và một của Huệ Hạo trong Cao Tăng truyện 1 ĐTK 2059 tờ 325a13-326b13. Bản của Huệ Hạo thực ra là một sao bản của bản Tăng Hựu với hai thêm thắt. Đó là việc nhét tiểu sử của Chi Khiêm ở đoạn đầu và việc ghi ảnh hưởng của Khương Tăng Hội đối với Tô Tuấn và Tôn Xước ở đoạn sau, cùng lời bình về sai sót của một số tư liệu. Việc nhét thêm tiểu sử của Chi Khiêm xuất phát từ yêu cầu phải ghi lại cuộc đời đóng góp to lớn của Khiên đối với lịch sử truyền bá Phật giáo của Trung Quốc, nhưng vì Khiêm là một cư sĩ và Cao Tăng truyện vốn chỉ ghi chép về các Cao Tăng, nên không thể dành riêng ra một mục, như Tăng Hựu đã làm trong Xuất tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 97b13-c18, cho Khiêm.
31/05/2011(Xem: 27456)
Quy ẩn, thế thôi ! (Viết để thương một vị Thầy, mỗi lần gặp nhau thường nói “mình có bạn rồi” dù chỉtrong một thời gian rất ngắn. Khi Thầy và tôi cách biệt, thỉnh thoảng còn gọi điệnthoại thăm nhau) Hôm nay Thầy đã đi rồi Sắc không hai nẻo xa xôi muôn ngàn Ai đem lay ánh trăng vàng Để cho bóng nguyệt nhẹ nhàng lung linh Vô thường khép mở tử sinh Rong chơi phù thế bóng hình bụi bay Bảo rằng, bản thể xưa nay Chơn như hằng viễn tỏ bày mà chi
27/05/2011(Xem: 12731)
Vào năm 247, một vài năm sau khi Chi Khiêm rời khỏi kinh đô Kiến Nghiệp, Khương Tăng Hội, một vị cao tăng gốc miền Trung Á, đã đến đây. Ngài đến từ Giao Chỉ, thủ phủ của Giao Châu ở miền cực Nam của đế quốc Trung Hoa (gần Hà nội ngày nay). Gia đình của Ngài đã sinh sống ở Ấn độ trải qua nhiều thế hệ; thân phụ của Ngài, một thương gia, đến định cư ở thành phố thương mại quan trọng này.
25/05/2011(Xem: 7217)
Đại lão Hòa Thượng Thích Đồng Huy HT. Thích Đồng Huy - Thành viên HĐCM, Ủy viên HĐTSTW GHPGVN, Trưởng ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Trưởng ban Quản trị Đại Tòng Lâm, Viện chủ Tu viện Vạn Hạnh.