Cảm Niệm Ân Sư

17/09/201507:35(Xem: 10782)
Cảm Niệm Ân Sư
CẢM NIỆM ÂN SƯ  CHUNG  THẤT ĐỨC ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG PHÁP SƯ THÍCH GIÁC NHIÊN ( Viên Tịch 03/08/2015 Nhằm 19/06 Ất mùi)

Nam mô Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật

Nam mô Đại Hiếu Mục kiền liên tôn giả

Hôm nay ngày mùng 8/8 năm Ất mùi là ngày Tưởng niệm chung thất trai tuần của đức Tôn sư. Chúng con hàng môn đồ pháp quyến đồng quỳ trước Giác linh Ngài thành kính đảnh lễ và dâng lời cảm niệm.

Kính lạy Giác Linh Ân sư,

 Thời gian thật vô tình và tàn nhẫn..7 tuần lễ trôi qua trong nháy mắt kể từ ngày chúng con đón nhận ai tin.

 Chúng con đã bao lần quỳ đây gục mặt, lòng ngổn ngang tan vỡ vạn niềm đau. Đeo mảnh khăn tang những đứa trẻ mồ côi ngơ ngác bàng hoàng.Thầy về đâu ..? để con trẻ bơ vơ giữa trần gian muôn ngàn cạm bẩy.

 Học hỏi cả đời chúng con vẫn là những đàn con khờ dại, quỳ bên nhau như gà lạc mẹ xôn xao.

Nhìn di ảnh Ân sư lòng thổn thức nghẹn ngào,, sao sự thật cứ lòng đau, đau lòng như thế.!?

Tôn sư ơi ! Xin Người hãy từ bi cho chúng con khóc kể, cho chúng con thổ lộ tấm chân tình..

Dẩu biết rằng Người đã thoát khỏi tử sinh, ngời Linh  ảnh Ngài mĩm cười nhân ái.

Trần gian nầy chúng con giờ đành xa Người mãi mãi, như một lần đi..sao mãi miết không về.

 Như chuyến đò chiều rời khỏi bến mê, con chết lặng giữa mù sa nhân thế.

Đối với Ân sư ngài khứ lai tự tại, nhưng thương thay !

Đàn con khờ giữa sa mạc hoang liêu., còn đâu dáng Thầy hiền lời khuyên dạy thân yêu, giọng trầm ấm, bình dân với nụ cười hỷ xả..

Người không chỉ dạy Tu, dạy Thiền mà dạy cho chúng con tất cả. Dạy cách ăn cách sống phòng hộ thân tâm.

Thế gian nầy giờ đã hóa tối tăm, khi bên cạnh chúng con đã không còn Thầy nữa..

Sư Phụ ơi!

Vỡ tan rồi, hải đảo trăm năm nương tựa. giữa trùng dương bóng đã lặn về Tây…xa thật rồi như những áng mây. Người tự tại thong dong về cõi Giác..

chỉ còn lại đàn con gục đầu cúi mặt.

Từ hôm nay và mãi mãi về sau..con đường sang Hoa kỳ trở nên lạnh nhạt, quê hương nầy đã mất hẳn yêu thương.. đâu còn Pháp sư để thăm hỏi, để cúng dường, để xoa bóp chân tay, để hàn huyên kể lể..

Chỉ nghĩ đến điều ấy tim con như thắt lại,  từng cơn đau dù Người bảo không nên : Là trượng phu sao Minh Hiếu mãi yếu mềm, chỉ biết khóc để hóa thành nhỏ dại.

Kính lạy giác linh Sư phụ..

Tạ ân Người đã cưu mang nuôi dưỡng, Huệ mạng nầy ngàn thuở vẫn còn ghi.

Tạ ân người đã nghe con kể lễ, bao lỗi lầm hơn cả núi Tu di.

Người trong con không trở thành thần tượng, mà hóa thân làm xương thịt mĩm cười..

 Để cho con muôn đời không xa cách, không rời người trong một phút một ly. Con ích kỷ mà Người từng dung chứa, thêm một lần người mở cửa từ bi.

Cho con được ôm hình hài bất tử, bóng dáng Thầy vạn thuở khắc ghi.

Pháp thân Người hòa tan vào cát bụi. Mà anh linh ngời sáng cõi Liên Trì..

Chữ sắc không giờ đây con thấu hiểu, Đảnh lễ tiễn Ngài Như thị đến đi..

Chí thành đảnh lễ thành kính  tạ ân Giác linh Tôn sư của chúng con.

Nam mô tân viên tịch Giác Linh Hòa Thượng Pháp Sư thùy từ chứng giám..

                                             Đệ tử Tk Minh Hiếu  Khấp bái

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10394)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 10373)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 13138)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8768)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.
09/04/2013(Xem: 14817)
Hòa thượng pháp hiệu Thích-Thiện-Hòa, thế danh Hứa-Khắc-Lợi sanh năm 1907 tại làng Tân-Nhựt Chợ Lớn. Ngài sinh trong gia đình trung lưu phúc hậu, thân phụ là Hứa-hắc-Tài, thân mẫu là Nguyễn-Thị-Giáp. Gia đình cả thảy bảy anh em : ba nam, bốn nữ, Ngài là người thứ bảy. Vì người thứ tám mất sớm nên Ngài được coi là con út.
09/04/2013(Xem: 8542)
Hòa thượng pháp danh Trí Độ, hiệu Hồng Chân, thế danh Lê Kim Ba, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1894 tại thôn Phổ Trạch, xã Kỳ Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Sinh ra trong một gia đình Nho học, lúc thiếu thời Ngài học chữ Nho và năm 18 tuổi học trường Sư phạm. Vì thế mà sở học rất uyên thâm, thêm lòng mến mộ đạo Phật, Ngài đi sâu vào nghiên cứu giáo lý và trở thành một vị học Phật lỗi lạc.
09/04/2013(Xem: 8991)
Hòa Thượng pháp danh Thích Tâm Thi, đạo hiệu Tuệ Tạng, thế danh Trần Thanh Thuyên, sinh năm Canh Dần (1889) tại làng Quần Phương Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Thân phụ Ngài là ông Trần Tín tự Phúc Châu, thân mẫu là bà Vũ Thị Tú hiệu Diệu Hòa.
09/04/2013(Xem: 10183)
Hòa thượng Hộ Tông (1893-1981), Maha Thera Vansarakkhita, có thế danh là Lê Văn Giảng, sinhngày 15 tháng 10 năm 1893, tại làng Tân An, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Ngài xuất thân trongmột gia đình trung lưu trí thức, thân phụ là ông Lê Văn Như, thân mẫu là bà Đinh Thị Giêng.
09/04/2013(Xem: 8946)
Hòa Thượng họ Nguyễn, Húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, pháp hiệu Thích Trí Thủ. Ngày sinh ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Dậu, tức ngày 01-11-1909 trong một gia đình nho phong thanh bạch, tại làng Trung Kiên, tổng Bích Xa, phủ Triệu Phong (nay là xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là cụ Nguyễn Hưng Nghĩa, thân mẫu là cụ Lê Thị Chiếu. Hai cụ là người rất kính tín Tam Bảo. Vì vậy, dù là con trai độc nhất trong gia đình, lúc 14 tuổi Ngài đã được song thân cho vào học kinh kệ ở chùa Hải Đức Huế.
09/04/2013(Xem: 14637)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái.