Điếu văn của HT Giác Lượng

10/08/201516:04(Xem: 11050)
Điếu văn của HT Giác Lượng

Điếu văn của Hòa thượng Thích Giác Lượng

Viện trưởng Viện Hành Đạo Giáo Hội Phật giáo Tăng-già Khất sĩ Thế giới

Tưởng Niệm Cố Trưởng Lão HT. Pháp Chủ Thích Giác Nhiên

 

Mây trời Mỹ Quốc còn in bóng,

Biển nước California vẫn xuôi dòng,

Đất Mẹ Việt Nam… Khất sĩ Cội hồng,

Pháp Khất sĩ Giác Nhiên hôm nay cao lồng lộng,

Đến tận miền Mỹ, Úc, Âu châu,

Tổ đình, Tịnh xá… Minh Đăng Quang khai mở,

Giáo pháp hoằng truyền giáo hóa quần sanh,

Tứ chúng đồng tu an lạc hạnh,

Đạo thể vuông tròn nhập Niết-bàn bất diệt vô sanh,

Giáo hội kính ghi gương đạo hạnh,

Ta-bà lưu dấu bóng chân nhân.

 

Kính bạch Giác linh Đức Ngài Pháp Chủ Giáo Hội Phật giáo Tăng-già Khất sĩ Thế giới,

Trước kim quan của Hòa thượng Pháp chủ,

Trong giờ phút nghìn thu vĩnh biệt,

Trang nghiêm thanh tịnh,

Con thành kính nghiêng mình tiễn biệt Đức Ngài Cao đăng Phật quốc.

Hòa thượng  trở về nơi cõi Phật,

Dẫu biết rằng sinh tử là lẽ thường,

Nhưng làm sao tránh khỏi bùi ngùi vĩnh  biệt!

 

Nhớ Giác linh xưa:

Năm Quý Hợi (1923), tại Trấn Giang, Cần Thơ

Ghi dấu một cao tăng tái kiếp làm hài nhi

Thân tướng trượng phu, cốt cách phương phi

Trong gia đình, Thân Phụ Mẫu đều tin Phật.

 

Mồ côi cha khi vừa tròn tám tuổi

Lại vĩnh biệt mẹ lúc đương xuân trai trẻ

Nhìn thấy đời Vô thường, sinh tử

Nghiên tầm Phật pháp, quyết chí đi tu.

 Mười sáu tuổi xuân,

Từ bỏ cuộc đời trần tục, cầu đạo xuất gia,

Thầy Minh Trí ban Pháp hiệu Minh Châu,

Rồi đến Ngài Đại Lão Hòa Thượng Minh Phụng, ban Pháp hiệu Tánh Chơn.

Ngày đêm tinh tấn, ít ngủ, siêng tu

Kinh điển thuộc làu trong thời gian ngắn,

Dòng Thời gian lần hồi trôi  theo dòng pháp,

Bước chân Minh Đăng Quang xuất hiện trời Nam,

Ánh Nhiên Đăng ngời ngời sang tỏ;

Năm Tân Mão, xuôi dòng sông Mê Kông Cần Thơ học đạo

Nương bóng từ:

Thọ giáo với Đức Tổ sư Minh Đăng Quang

Thật hành theo hạnh du Tăng Khất sĩ,

Nối truyền Thích Ca Chánh Pháp,

Kể từ đó, bước chân người Khất sĩ vân du,

Xuân Thu khất thực chỉnh chu đạo vàng,

Năm Giáp Ngọ (1954), đức Tổ Sư vắng bóng;

Tiếp tục dẫn đoàn du Tăng Khất Sĩ hành đạo khắp nơi,

Khai mở thêm 30 ngôi Tịnh xá mới.

Trưởng lão Hòa thượng đem hết sức mình,

Hộ trì Phật pháp, phát triển Tăng đồ

Không ngại gian lao vất vả,

Cùng Tăng đoàn Khất sĩ rộng mở bốn phương,

Tinh tấn tu hành,

Nghiêm trì giới luật mô phạm, uy nghiêm.

Pháp chủ  kiên trì cần mẫn,

Lãnh đạo Tăng đoàn, giáo dục Tăng Ni, Phật tử;

Tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức.

Công đức ấy Giáo hội luôn luôn ghi tạc,

Nơi Phật quốc ánh Nhiên Đài mãi sáng.

 

Vô thường, sinh diệt – định luật ngàn thu

Thân tứ đại mỏi mòn, tuy lâm trọng bệnh,

Nhưng Đức Ngài vẫn an nhiên tự tại,

Bởi sinh tử vô thường là sự đại,

Hôm nay đây duyên hết, đạo nghiệp viên thành,

Nơi Tịnh xá Minh Đăng Quang,

Viện truyền thống nối gót Phật, Tổ Thầy về đài Giác ngộ;

Từ đây,

Chúng con mất đi Thầy hướng đạo

Ta-bà vắng bóng bậc Ân sư.

Pháp tử chúng con kính cẩn nghiêng mình,

Vạn lần cúi đầu đảnh lễ,

Ngưỡng mong giác linh Trưởng lão Hòa thượng an lành nơi cõi Phật,

Hồi nhập Ta-bà,

Tiếp tục hạnh nguyện giác tha,

Tuyên dương giáo pháp.

 

Giờ đây trước án kim quan,

Hương từ tỏa ngát,

Trí tuệ đăng minh,

Xin dâng nén tâm hương,

Ngưỡng mong giác linh Trưởng Lão từ bi chứng giám.

 

Đúng là:

Minh Đăng Quang Cội an lành,

GIÁC Ngộ Ta-bà, dìu dắt chúng

NHIÊN Đăng, phổ chiếu khắp quần sanh.

 

Kính lạy Giác linh Thầy,

Vạn lần, vạn lần…. Kính lễ bái biệt bậc chân nhân.

 

Nam Mô Giác linh Trưởng Lão Hòa thượng Pháp chủ Thích Giác Nhiên Thùy từ chứng giám.

 


Viện Hành Đạo – Tổ Đình Minh Đăng Quang,

Ngày cuối Hè Tang thương tháng 8, năm Ất Mùi - 2015, Tỳ kheo Giác Lượng thủ bút.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10526)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 11089)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 13666)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8903)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.
09/04/2013(Xem: 14947)
Hòa thượng pháp hiệu Thích-Thiện-Hòa, thế danh Hứa-Khắc-Lợi sanh năm 1907 tại làng Tân-Nhựt Chợ Lớn. Ngài sinh trong gia đình trung lưu phúc hậu, thân phụ là Hứa-hắc-Tài, thân mẫu là Nguyễn-Thị-Giáp. Gia đình cả thảy bảy anh em : ba nam, bốn nữ, Ngài là người thứ bảy. Vì người thứ tám mất sớm nên Ngài được coi là con út.
09/04/2013(Xem: 8598)
Hòa thượng pháp danh Trí Độ, hiệu Hồng Chân, thế danh Lê Kim Ba, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1894 tại thôn Phổ Trạch, xã Kỳ Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Sinh ra trong một gia đình Nho học, lúc thiếu thời Ngài học chữ Nho và năm 18 tuổi học trường Sư phạm. Vì thế mà sở học rất uyên thâm, thêm lòng mến mộ đạo Phật, Ngài đi sâu vào nghiên cứu giáo lý và trở thành một vị học Phật lỗi lạc.
09/04/2013(Xem: 9111)
Hòa Thượng pháp danh Thích Tâm Thi, đạo hiệu Tuệ Tạng, thế danh Trần Thanh Thuyên, sinh năm Canh Dần (1889) tại làng Quần Phương Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Thân phụ Ngài là ông Trần Tín tự Phúc Châu, thân mẫu là bà Vũ Thị Tú hiệu Diệu Hòa.
09/04/2013(Xem: 10301)
Hòa thượng Hộ Tông (1893-1981), Maha Thera Vansarakkhita, có thế danh là Lê Văn Giảng, sinhngày 15 tháng 10 năm 1893, tại làng Tân An, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Ngài xuất thân trongmột gia đình trung lưu trí thức, thân phụ là ông Lê Văn Như, thân mẫu là bà Đinh Thị Giêng.
09/04/2013(Xem: 8993)
Hòa Thượng họ Nguyễn, Húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, pháp hiệu Thích Trí Thủ. Ngày sinh ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Dậu, tức ngày 01-11-1909 trong một gia đình nho phong thanh bạch, tại làng Trung Kiên, tổng Bích Xa, phủ Triệu Phong (nay là xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là cụ Nguyễn Hưng Nghĩa, thân mẫu là cụ Lê Thị Chiếu. Hai cụ là người rất kính tín Tam Bảo. Vì vậy, dù là con trai độc nhất trong gia đình, lúc 14 tuổi Ngài đã được song thân cho vào học kinh kệ ở chùa Hải Đức Huế.
09/04/2013(Xem: 15395)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái.