Dâng lời sám hối Ân Sư

13/08/201500:58(Xem: 11750)
Dâng lời sám hối Ân Sư

 

Vào ngày 11/8/2015 nhằm ngày 27/6/Ất Mùi, chư tôn đức Tăng Ni ở hải ngoại đã câu hội về Viện Truyền thống Minh Đăng Quang để trang nghiêm làm lễ truy điệu và cung tiễn Kim quan của Hòa thượng Pháp sư.

Sau đây là những hình ảnh đã ghi lại được:

image5 Copy

image6 Copy

image8 Copy

image3 Copy

image1 Copy

image10 Copy

image2 Copy

htminh hieu2
DÂNG LỜI SÁM HỐI ÂN SƯ

 

            Nam Mô Tân Viên Tịch Đại Lão Hòa Thượng Pháp Sư Thượng GIÁC Hạ NHIÊN, Pháp Chủ Giáo Hội Phật Giáo Tăng Già Khất Sĩ Thế Giới Chứng Giám.

          Từ xứ sở Nam Bán Cầu xa xôi đất nước Úc Châu, toàn thể Tăng Ni Thiện Tín Giáo Hội Phật Giáo Khất Sĩ chúng con vô cùng kính tiếc, đau đớn hướng về phương trời Bắc Mỹ, bang California, Hoa Kỳ, nơi di ảnh và kim quan Tôn Sư chúng con đang tại vị, chí thành ngưỡng vọng Giác Linh.Kính lạy Ân Sư, xin Người phát lòng đại bi cho con được dâng lời sám hối sau cùng.

          SƯ PHỤ! Hai tiếng thân thương con xin gọi, dù ngôi cao Người ngự trị từ xưa.  Danh tiếng PHÁP SƯ mọi xưng tán hóa dư thừa, ở trong tâm con Người mãi mãi là người Cha, người Thầy bao dung từ ái.  Đến trước người con trở nên nhỏ dại và gây bao lầm lỡ vụng về.  Thật đáng thương những đứa trẻ u mê.  Sư Phụ xoa đầu, thứ tha cho đám conmãi vẫy vùng trong vũng bùn danh lợi.

          Nhớ năm xưa, đầu thập niên 70, những tháng năm mùa Hè lửa cháy, chúng con bốn anh em từ miền Trung khổ hải, dắt dìu nhau vào nấp bóng Tòng Lâm.  Ở ngôi vị chí cao SƯ PHỤ thật ân cần, thu nhận hết mà không hề phân biệt.  Giửa biển đời ngàn trùng sóng cả, giửa trần ai cháy bỏng gian tham, Sư Phụ của con danh cao vòi vọi ngút ngàn, hai tiếng PHÁP SƯ Người rống lên âm vang sư tử.  Uy nghi, dõng dạc mà từ bi hà hải, giửa trần gian thắp sáng Ánh Nhiên Đăng. 

Nhớ thuở xưakhicòn làm Điệu, Huệ, tuổi nhỏ của chúng con muôn điều vụng dại, ngàn thứ lỗi lầm, chập chững tập dần nương náu Tịnh Xá Trung Tâm, có khi thất thố oai nghi, bị các Đại Đức quyết tâm cho về chốn cũ.  Sợ hãi muôn trùng, hoang mang tột độ, chỉ có SƯ PHỤ lời dạy sau cùng: “Tuổi trẻ non dại, không sao tránh khỏi nông nỗi sơ tâm, xét lại căn tu hạt giống nẩy mầm, nên cho PHÁP SƯ bao dung tất cả.”

          SƯ PHỤ ơi!  Nhờ có thế, những sư tử con tập dần tiếng rống, noi bước Cha lành bỏ hẳn mặc cảm cừu non.

          Rồi sau năm 75, dòng đời đổi thay vạn nẻo, SƯ PHỤ dấn thân vào thế giới bao la, đệ tử chúng con thêm lần nữa lạc lối bôn ba.TừđấtHoakỳ  Pháp âm Người phủ khắp năm Châu, cho hàng vạn người thấm nhuần ơn mưa móc.  Đệ  tử con y lời xưa Thầy dạy học, trôi theo dòng đời lưu lạc xứ Úc Châu.  Hai mươi năm cách biệt mới lại gặp nhau, đứa con xưa nay trưởng thành thật sự.  SƯ PHỤ vẫn yêu thương trao cho hành trang viễn xứ, đây Lý Tưởng rạng ngời thuyết pháp độ sinh, bổn phận con nơi nàyđấtÚc,5 Tiểu Bang phải mở bày giáo nghĩa, thànhlậpđạotrànghànhđạokhắptrờiTây.

          Hơn 15 năm hoằng pháp nhớ mãi lời Thầy, vâng lời Sư Phụ dạy con ngỡ mình hay, kiến lập đạo tràng Minh Quang trang nghiêm hùng vĩ, nhữngtưởng làm vậy đã báo đáp ơnvàvuilòngThầytổ, nên ngã nhơn nổi dậy tập khí che mù... Bao nhiêu lần trách móc sao Sư Phụ không làm Chùa to Phật lớn, sự nghiệp nước ngoài chỉ có căn nhà nhỏ đơn sơ... Sao Sư Phụ cứ mãi đi, cứ mãi nói không dừng, mặc cho tấm thân tứ đại mỗi ngày thêm khô kiệt!

          SƯ PHỤ vẫn khen con mỗi lần gặp gỡ, thuyết pháp, hay khai mở Đạo Tràng làm rạng rỡ sư môn... Nhưng than ôi!  Giờ phút này đây con dâng cả tâm hồn cả tấm thân với muôn ngàn thống hối... SƯ PHỤ ơi!  Bậc Thượng Sĩ xuất trần sá gì với trần gian được thua vinh nhục, lòng Đại Bi, Người là Bồ Tát vào đời.  Sư Phụ ra đi bỏ con trẻ chơi vơi: 19/6 Ngài dự tri thời chí.

 Có bao người đã làm nên điều ấy, nếu không là Bồ Tát hóa viên dung?

          Bài thơ của Thiền Sư xưa con tụng:  “Nhạn quá trường không, Ảnh trầm hàn thủy, Nhạn vô lưu tích chi ý, Thủy vô lưu ảnh chi tâm”, còn Sư Phụ con ngàynay:    

          Chim trời sãi cánh dặm không,

          Bóng chìm đáy nước âm thầm vô ngôn.

          Thong dong giửa chốn bụi hồng,

          Nước chim tự tại sắc không hững hờ...

          Kính lạy Giác Linh Ân Sư,

Danh lợi sắc tài trần gian con nắm bắt, Sư Phụ mĩm cười: được lắm ráng nghe con... Cao viễn... Thậm thâm...Giờ tỉnh hiểu ra thì con đã không còn: Người tự tại khứ lai vào NHẤT THỂ...

          Văn tự nghèo nàn, ngữ ngôn rỗng tuếch, chỉ còn lại cơn đau, niềm thống hối vạn thuở không phai, dù con biết nơi đâu Sư Phụ ngự Liên Đài.... đừng tha thứ đứa con vô vàn bất hiếu...để con đau-càng đau thêm thấu hiểu. Sanh diệt ngàn đời chưa trả hết nghĩa ÂN SƯ!

          Chí thành đảnh lễ, dâng lời SÁM HỐI tiễn biệt SƯ PHỤ kính yêu của riêng con.

 

                                                          Bất Hiếu Tử Tỳ Kheo Minh Hiếu kính lạy.

 

            

Ý kiến bạn đọc
12/08/201515:52
Khách
Cầu giác linh Hòa Thượng cao đăng về Phật Quốc
Nam mô Tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10431)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 10612)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 13324)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8783)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.
09/04/2013(Xem: 14835)
Hòa thượng pháp hiệu Thích-Thiện-Hòa, thế danh Hứa-Khắc-Lợi sanh năm 1907 tại làng Tân-Nhựt Chợ Lớn. Ngài sinh trong gia đình trung lưu phúc hậu, thân phụ là Hứa-hắc-Tài, thân mẫu là Nguyễn-Thị-Giáp. Gia đình cả thảy bảy anh em : ba nam, bốn nữ, Ngài là người thứ bảy. Vì người thứ tám mất sớm nên Ngài được coi là con út.
09/04/2013(Xem: 8555)
Hòa thượng pháp danh Trí Độ, hiệu Hồng Chân, thế danh Lê Kim Ba, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1894 tại thôn Phổ Trạch, xã Kỳ Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Sinh ra trong một gia đình Nho học, lúc thiếu thời Ngài học chữ Nho và năm 18 tuổi học trường Sư phạm. Vì thế mà sở học rất uyên thâm, thêm lòng mến mộ đạo Phật, Ngài đi sâu vào nghiên cứu giáo lý và trở thành một vị học Phật lỗi lạc.
09/04/2013(Xem: 9017)
Hòa Thượng pháp danh Thích Tâm Thi, đạo hiệu Tuệ Tạng, thế danh Trần Thanh Thuyên, sinh năm Canh Dần (1889) tại làng Quần Phương Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Thân phụ Ngài là ông Trần Tín tự Phúc Châu, thân mẫu là bà Vũ Thị Tú hiệu Diệu Hòa.
09/04/2013(Xem: 10221)
Hòa thượng Hộ Tông (1893-1981), Maha Thera Vansarakkhita, có thế danh là Lê Văn Giảng, sinhngày 15 tháng 10 năm 1893, tại làng Tân An, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Ngài xuất thân trongmột gia đình trung lưu trí thức, thân phụ là ông Lê Văn Như, thân mẫu là bà Đinh Thị Giêng.
09/04/2013(Xem: 8964)
Hòa Thượng họ Nguyễn, Húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, pháp hiệu Thích Trí Thủ. Ngày sinh ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Dậu, tức ngày 01-11-1909 trong một gia đình nho phong thanh bạch, tại làng Trung Kiên, tổng Bích Xa, phủ Triệu Phong (nay là xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là cụ Nguyễn Hưng Nghĩa, thân mẫu là cụ Lê Thị Chiếu. Hai cụ là người rất kính tín Tam Bảo. Vì vậy, dù là con trai độc nhất trong gia đình, lúc 14 tuổi Ngài đã được song thân cho vào học kinh kệ ở chùa Hải Đức Huế.
09/04/2013(Xem: 14869)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái.