Kính nhớ Thầy

19/08/201519:44(Xem: 9004)
Kính nhớ Thầy



HT Thich Giac Toan

1. 

Lần đầu con gặp Pháp sư

Mà nghe tâm cảm dường như quen rồi

Dáng đi, dáng đứng, dáng ngồi

Cùng là những lúc nói cười thân thương

Lại thêm những lúc thượng đường

Uy nghi thuyết giảng, pháp tuôn hùng hồn

Âm thanh trầm ấm du dương

Lòng con bừng ngộ thiền hương dạt dào

Thì ra ngàn kiếp tâm giao

Linh Sơn cốt nhục ngọt ngào trong tim

Nụ cười ru giấc ngủ êm

Pháp âm đồng vọng tận tiềm thức xưa

Nhân duyên như đợi, như chờ

Nay Thầy về nối giấc mơ hôm nào!

Thầy đi lòng những nao nao

Đoàn du Tăng vẫy tay chào vấn vương!


2.

Đời Thầy sứ giả hoằng dương

Rày đây mai đó… du phương ta bà

Hạnh tu Khất sĩ Tăng-già

Tam y nhất bát, ngàn nhà hóa duyên

Đâu đâu Thầy cũng hiện tiền

Bồ-tát bổ xứ… rưới hiền độ sanh

Một ngày phát túc căn lành

Trung Tâm tịnh xá sẵn dành hồng ân

Con quỳ trình bạch tỏ phân

Thầy nhận con, tiếp nối vần độ sanh

Sáu lăm, bảy tám … hóa thành

Mười ba năm (1965-1978)… hạnh cao thanh gội nhuần

Dòng đời xe pháp chuyển luân

Bóng Thầy ngàn dặm phong trần mười phương

 

Ấn tâm tịnh lạc chơn thường

Trung Tâm – Pháp viện… đạo trường thắng duyên.

3.

Đệ huynh gắn kết mối giềng

Đồng tâm hiệp lực nhiệm huyền xưa sau

Trời xanh mây trắng chiêm bao

Năm châu bốn biển một màu đại dương

Thầy đi biền biệt tha hương

Mong Thầy vạn dặm cát tường nhân gian

Trung Tâm pháp hội truyền đăng

Cùng nhau sách tấn hòa chan thế trần.

Ngày ngày chuyển pháp xa luân

Tháng năm góp nhặt tinh thần xương minh

Tăng-già tăng trưởng tâm linh

Tại gia cư sĩ thoát tình lầm mê

Mỗi tuần mỗi vượt sơn khê

Chơn lý pháp bảo nẻo về thanh lương

Nhớ ân Phật tổ khai đường

Niệm ân Thầy đã soi gương hạnh lành

Pháp trần bùi ngọt khế chanh

Đạo thiêng trầm mặc cao thanh hương thiền

Thất tình lục dục… não phiền

Giới định tuệ trú an nhiên tịch nhàn.

4.

Bốn phương tám hướng trần gian

Tâm yên thì vạn nẻo đàng đều yên

Tâm vọng dù ở cảnh tiên

Lao xao mộng tưởng cái triền[i] buộc thân

Ánh nhiên đăng” chiếu diệu trần

Tĩnh tâm tứ kệ” chân nhân Thầy truyền

Hiển đạo “Pháp môn tọa thiền

Hiếu hạnh “Thương nhớ mẹ hiền” hương thiêng

Ta bà ngàn dặm pháp duyên

Mỗi bước đi, mỗi lời hiền giảng phân

Truyền trao “Tư tưởng siêu nhân

Giáo khuyên “Trai giới trường sinh” thiện lành

Thương đời “Diệu lý…” tương sanh

Vô lượng pháp bảo hóa thành phạm âm

Đông phương”, “Pháp đăng”, “ Thậm thâm”

Nhiên đăng”, “Tuệ…”, “Bảo…” “Tỉnh tâm”, “Định thiền

Minh Quang”, “Viên thông”, “Tâm kinh

Phá mê”, “Bát-nhã”… huyền linh ngút ngàn

Chữ Tê (T) lợi hại… vô vàn

Tình, tiền, tù, tội… trái oan khổ buồn

Nhân quả chuyền níu vấn vương

Tỉnh thức giải thoát chơn thường tịnh không.

5.

Đời Thầy Nam, Bắc, Tây, Đông

Công đức viên mãn thuận dòng bệnh duyên

Chín năm sâu lắng giải phiền (2006-2015)

Ly xả tứ đại, an nhiên tịch nhàn

Tăng Ni, Phật tử các hàng

Kính thương mến tiếc… lệ tràn bờ mi

Đạo tình sanh tử biệt ly

Thầy đi, con ở sầu bi khôn cùng

Trời Ca-li tiễn... lệ tuôn

Trời Sài Gòn đón… suối nguồn hiếu tâm

Xưa Thầy đi bóng xa xăm

Nay Thầy về lại tịch trầm hương thiêng

Thầy về trong giấc ngủ yên

Nhục thân tĩnh lặng ngự thuyền tường vân

Nam-mô Phật chứng pháp thân

Nam-mô Pháp bảo hiển thần Sa-môn

Nam-mô Tăng nhập Linh Sơn

Tứ đức “tịnh lạc ngã thường” thiền gia

Nam-mô Bát-nhã ba la

Niết-bàn an trụ Tăng-già hạo nhiên!

PV.Minh Đăng Quang-Q.2, 03/7/Ất Mùi

Trần Quê Hương

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/03/2013(Xem: 18050)
Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư, Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 01 (2007, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 02 (2008, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 03 (2019, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 04 (2010, Đức) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 05 (2011, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 06 (2012, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 07 (2013, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 08 (2014, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 09 (2015, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 10 (2016, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 11 (2018, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 12 (2020, Úc)
18/03/2013(Xem: 8585)
Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam, trước năm 1975 là một trung tâm văn hóa Phật giáo nổi tiếng lừng lẫy. Nơi đây đã quy tụ biết bao hào kiệt trượng phu, biết bao tao nhân mặc khách, biết bao giáo sư, triết gia cự phách thượng đẳng. Đặc biệt là các thiên tài xuất chúng siêu việt như Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, nổi bật nhất là Bùi Giáng, một thi sĩ kỳ dị, xưa nay chưa từng thấy xuất hiện trên bầu trời văn nghệ Việt Nam và thế giới.
11/03/2013(Xem: 8768)
Lê Quý Đôn (1726-1784) là một danh sĩ, nhà văn hóa, sử gia, sống vào đời Hậu Lê. Ông không những ba lần thi đều đỗ đầu, kinh qua nhiều chức quan, đã từng đi sứ sang Trung Quốc, mà còn là một nhà bác học, đã để lại một gia tài đồ sộ bao gồm khoảng 16 tác phẩm và nhiều thơ, phú bằng chữ Nôm khác. [1] Trong số những tác phẩm ấy, có Kiến văn tiểu lục, [2] là một tác phẩm dành riêng quyển 9 – thiên Thiền dật, để viết về Phật giáo và Thiền tông Phật giáo Việt Nam, chủ yếu là những vị Tổ thuộc Thiền phái Trúc lâm. Trong bài viết ngắn này, chúng ta thử chỉ tìm hiểu quan điểm của Lê Quý Đôn về Phật giáo, mà không bàn sâu đến phần Thiền tông Việt Nam mà ông đã chép.
21/02/2013(Xem: 9718)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái. Ngài sinh trưởng trong một gia đình Nho phong. Thân phụ Ngài tinh thông Hán học. Cả hai ông bà lại rất thâm tín Phật pháp. Do đó, Ngài được hấp thụ ngay từ thuở ấu thơ hai nền văn hóa cổ truyền của dân tộc là Khổng giáo và Phật giáo.
19/02/2013(Xem: 11503)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 13047)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24248)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10309)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8666)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8584)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.