Kính nhớ Thầy

19/08/201519:44(Xem: 8996)
Kính nhớ Thầy



HT Thich Giac Toan

1. 

Lần đầu con gặp Pháp sư

Mà nghe tâm cảm dường như quen rồi

Dáng đi, dáng đứng, dáng ngồi

Cùng là những lúc nói cười thân thương

Lại thêm những lúc thượng đường

Uy nghi thuyết giảng, pháp tuôn hùng hồn

Âm thanh trầm ấm du dương

Lòng con bừng ngộ thiền hương dạt dào

Thì ra ngàn kiếp tâm giao

Linh Sơn cốt nhục ngọt ngào trong tim

Nụ cười ru giấc ngủ êm

Pháp âm đồng vọng tận tiềm thức xưa

Nhân duyên như đợi, như chờ

Nay Thầy về nối giấc mơ hôm nào!

Thầy đi lòng những nao nao

Đoàn du Tăng vẫy tay chào vấn vương!


2.

Đời Thầy sứ giả hoằng dương

Rày đây mai đó… du phương ta bà

Hạnh tu Khất sĩ Tăng-già

Tam y nhất bát, ngàn nhà hóa duyên

Đâu đâu Thầy cũng hiện tiền

Bồ-tát bổ xứ… rưới hiền độ sanh

Một ngày phát túc căn lành

Trung Tâm tịnh xá sẵn dành hồng ân

Con quỳ trình bạch tỏ phân

Thầy nhận con, tiếp nối vần độ sanh

Sáu lăm, bảy tám … hóa thành

Mười ba năm (1965-1978)… hạnh cao thanh gội nhuần

Dòng đời xe pháp chuyển luân

Bóng Thầy ngàn dặm phong trần mười phương

 

Ấn tâm tịnh lạc chơn thường

Trung Tâm – Pháp viện… đạo trường thắng duyên.

3.

Đệ huynh gắn kết mối giềng

Đồng tâm hiệp lực nhiệm huyền xưa sau

Trời xanh mây trắng chiêm bao

Năm châu bốn biển một màu đại dương

Thầy đi biền biệt tha hương

Mong Thầy vạn dặm cát tường nhân gian

Trung Tâm pháp hội truyền đăng

Cùng nhau sách tấn hòa chan thế trần.

Ngày ngày chuyển pháp xa luân

Tháng năm góp nhặt tinh thần xương minh

Tăng-già tăng trưởng tâm linh

Tại gia cư sĩ thoát tình lầm mê

Mỗi tuần mỗi vượt sơn khê

Chơn lý pháp bảo nẻo về thanh lương

Nhớ ân Phật tổ khai đường

Niệm ân Thầy đã soi gương hạnh lành

Pháp trần bùi ngọt khế chanh

Đạo thiêng trầm mặc cao thanh hương thiền

Thất tình lục dục… não phiền

Giới định tuệ trú an nhiên tịch nhàn.

4.

Bốn phương tám hướng trần gian

Tâm yên thì vạn nẻo đàng đều yên

Tâm vọng dù ở cảnh tiên

Lao xao mộng tưởng cái triền[i] buộc thân

Ánh nhiên đăng” chiếu diệu trần

Tĩnh tâm tứ kệ” chân nhân Thầy truyền

Hiển đạo “Pháp môn tọa thiền

Hiếu hạnh “Thương nhớ mẹ hiền” hương thiêng

Ta bà ngàn dặm pháp duyên

Mỗi bước đi, mỗi lời hiền giảng phân

Truyền trao “Tư tưởng siêu nhân

Giáo khuyên “Trai giới trường sinh” thiện lành

Thương đời “Diệu lý…” tương sanh

Vô lượng pháp bảo hóa thành phạm âm

Đông phương”, “Pháp đăng”, “ Thậm thâm”

Nhiên đăng”, “Tuệ…”, “Bảo…” “Tỉnh tâm”, “Định thiền

Minh Quang”, “Viên thông”, “Tâm kinh

Phá mê”, “Bát-nhã”… huyền linh ngút ngàn

Chữ Tê (T) lợi hại… vô vàn

Tình, tiền, tù, tội… trái oan khổ buồn

Nhân quả chuyền níu vấn vương

Tỉnh thức giải thoát chơn thường tịnh không.

5.

Đời Thầy Nam, Bắc, Tây, Đông

Công đức viên mãn thuận dòng bệnh duyên

Chín năm sâu lắng giải phiền (2006-2015)

Ly xả tứ đại, an nhiên tịch nhàn

Tăng Ni, Phật tử các hàng

Kính thương mến tiếc… lệ tràn bờ mi

Đạo tình sanh tử biệt ly

Thầy đi, con ở sầu bi khôn cùng

Trời Ca-li tiễn... lệ tuôn

Trời Sài Gòn đón… suối nguồn hiếu tâm

Xưa Thầy đi bóng xa xăm

Nay Thầy về lại tịch trầm hương thiêng

Thầy về trong giấc ngủ yên

Nhục thân tĩnh lặng ngự thuyền tường vân

Nam-mô Phật chứng pháp thân

Nam-mô Pháp bảo hiển thần Sa-môn

Nam-mô Tăng nhập Linh Sơn

Tứ đức “tịnh lạc ngã thường” thiền gia

Nam-mô Bát-nhã ba la

Niết-bàn an trụ Tăng-già hạo nhiên!

PV.Minh Đăng Quang-Q.2, 03/7/Ất Mùi

Trần Quê Hương

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 8793)
Hòa thượng họ Võ, húy Trọng Tường, Pháp danh Tâm Phật, tư Tri Đức, hiệu Thiện Siêu, Hòa thượng sinh ngày 15 tháng 7 năm Tân Dậu (1921) trong môt gia đình thâm Nho tín Phật ở làng Thần Phù, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, thành phố Huế. Thân Phụ là C ông Võ Trọng Giáng, thân mẫu là Cụ bà Dương Thị Viết. Hòa thượng là con trưởng trong một gia đình có 6 anh em: 3 trai, 3 gái. Người em kế cũng xuất gia, đó là cố Thượng tọa Thích Thiện Giải, nguyên là Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất tỉnh Lâm Đồng; Trú trì chùa Phước Huệ - Bảo Lộc.
09/04/2013(Xem: 10710)
Thầy xuất thân trong một gia đình kính tín Tam bảo. Thầy là con út trong gia đình gồm 6 anh chị em. Cha là cụ Ông Lâm Sanh Thảo, một nhà trí thức yêu nước; Mẹ là cụ Bà Trần Thị Năm, một phật tử thuần túy và cũng là một người Mẹ mẫu mực đảm đang.
09/04/2013(Xem: 14226)
Thượng tọa Thích Chơn Thanh, thế danh Phan Văn Bé, sinh ngày 13 tháng 3 năm 1949 tại xã Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, tỉnh Kiến Phong, nay là tỉnh Đồng Tháp. Thân phụ là Cụ ông Phan Văn Vinh, thân mẫu là Bà Nguyễn Thị Mến. Thượng tọa có 06 anh em, 2 trai 4 gái, Ngài là anh cả trong gia đình.
09/04/2013(Xem: 25938)
Cuộc đời tu tập và hành đạo của Thầy Minh Phát là bức tranh minh họa hiện thực sinh động lời dạy của Ðức Phật: “Này chư Tỳ kheo! Hãy du hành vì an lạc, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư Thiên và loài người”.
09/04/2013(Xem: 15553)
Thuở nhỏ lòng ưa cửa Ðạo, mến chuộng nếp áo phước điền, ngưỡng trông tịnh xá Kỳ Viên, tha thiết lòng cầu xuất tục. 16 tuổi, xuất gia học đạo chùa Tây An, Châu Ðốc trước tiên, gần quý Thầy hiền, trau dồi Phật tuệ, bang sài vận thủy, tu sửa đạo tràng; 27 tuổi, cầu thọ tam đàn. Kể từ đó tinh chuyên tu niệm.
09/04/2013(Xem: 9923)
Đại lão hòa thượng Thích Trí Nhãn thế danh là Đoàn Thảo, pháp danh Như Truyện, tự Giải Lệ, hiệu Thích Trí Nhãn. Ngài sinh ngày 10 tháng giêng năm Kỷ Dậu tức vào năm 1909 dương lịch, tại xứ Đồng Nà, tổng Phú Triêm Hạ, Xã Thanh Hà, nay thuộc thôn Đồng Nà, xã Cẩm Hà, Thị Xã Hội An.
09/04/2013(Xem: 17949)
Xuất thân trong một gia đình gia giáo có thân phụ là Chánh Tổng nên Hòa Thượng đã sớm hấp thụ Nho học và Tây học từ thuở ấu niên. Vì thế, Hòa Thượng đã thông thạo cả Hán văn lẫn Pháp văn, kết hợp và dung hòa được cả hai truyền thống văn hóa Đông – Tây.
09/04/2013(Xem: 15775)
Hòa Thượng thượng Tâm hạ Thành. Thế danh là Nguyễn Ðức Huân sinh năm 1930 tại làng Trà Bắc, Phủ Xuân Trường, Tỉnh Nam Ðịnh, Miền Bắc Việt Nam. Năm 1942 khi vừa tròn 12 tuổi, Ngài ngộ lý vô thường và xuất gia học đạo với Sư Tổ Thượng Chính Hạ Ðĩnh tại chùa Yên Cư, Phủ Xuân Trường, Thuc Sơn Môn Trà Bắc. (Sơn môn Trà Bắc, Trà Trung và Trà Ðông thuc Tổng Trà Lũ, là hậu thân của Sơn môn Yên Tử). Ngài được Bổn Sư ban Pháp danh là Ngọc Tiểu Pháp hiệu Tâm Thành.
09/04/2013(Xem: 13384)
Mỗi lần đi Huế lòng tôi lại nao nao khôn tả. Huế là đạo, là thơ, là nghĩa tình ý vị, là tinh hoa văn hóa của ba miền đất Việt, nhưng cũng là mảnh đất khô cằn của đói nghèo khốn khổ “mùa đông thiếu áo mùa hè thiếu cơm” đã hứng chịu nhiều thiên tai nhân họa. Huế được phong phú về mặt văn hóa, tâm linh là nhờ hình ảnh những vị đại lão hòa thượng nơi đây đã sống, hành đạo và xả báo thân. Dù đã viên tịch, dư hương các ngài vẫn như còn phảng phất nơi các ngôi tổ đình tĩnh lặng và những rừng thông bạt ngàn.
09/04/2013(Xem: 8822)
Giờ phút Thầy an nhiên xả báo thân, thì bên này hơn nữa đêm. Một Phật tử của Thầy ở miền Đông nước Mỹ, giọng đầm đìa nước mắt, khấp báo cho tôi tin Thầy đã từ biệt, lệ tiếc thương như tràn ngập, khắp đó khấp đây. Rồi Tuệ Sỹ, một hậu tấn, kẻ đồng tâm dễ thương của Thầy, mà tôi thường ví như một hạt kim cương hiếm hoi lẫn trong đá sỏi của Phật Giáo Việt Nam ngày nay, trong nổi cô quạnh bao la vừa sau một mất mát lớn lao đã ai tín cho tôi bằng lá thư không niêm mà tôi biết mỗi chữ cũng trĩu nặng nổi lòng.